Increase Font Size Decrease Font Size Reset Font Size
Image Slider
Tổ Quốc Ghi Ơn
Bài Mới Nhất
Phân Ưu Cùng Gia Đình Cụ Bà Nguyễn Đình Khiết

Phân Ưu Cùng Gia Đình Cụ Ông Nguyễn Văn Hoành

Hậu Túc Cầu Thế Giới 2010

Kỷ Niệm Một Chuyến Đi

Hoài Cảm Đại Hội Ân Tình lần Bốn

Hai tổng thống đi "ăn bụi"

Viết về một người bạn trẻ đã ra đi

Trong Lao Tù Cộng Sản

Siêu Vi Khuẩn Và Nạn Đói

Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Mỹ Nhật phản ứng trước sư căng thẳng ..

Ha Uy Di Thiên Ðường Hạ Giới

Bài Thơ Lạ

Trung Ðoàn Bình Thuận tại Mặt Trận Phước Tuy..

Đi thăm một vi tướng anh hùng VNCH

Tàu Trung Cộng và Mã Lai Á đụng độ tại Trường Sa

Chương Trình Ðại Hội Ân Tình IV Honolulu

Danh sách Ðồng Hương Bình Thuận dự ÐH Honolulu

Thông cáo Thương Hải 1972 Mỹ-Tàu

Tháng Tư nào ta về Phan Thiết ?

Tin về việc Bốc Mộ QLVNCH chet tai Bac Việt

Ba mươi lăm năm nhìn lại những ngày trơ xương..

Chính Phủ VNCH Chưa Hề Xử Dụng Đến Trẻ Em để Đánh Giặc

Thông cáo báo chí v/v BBC&DNB

Ngày 19-4-1975 Phan Thiết mất

1975 Hoa Kỳ Sa Lầy Hay Bỏ Chạy Khỏi VN

Phân Ưu Thân Mẫu Anh Chị Phan Bái

Ba Mươi Lăm Trước Ngày 30-4-1975 TT Dương Văn Minh..

Ðạo luật bảo vệ sức khỏe mới

TÌNH NGƯỜI TRONG CƠN LY LOẠN

Có Nên Dùng Ngôn Ngữ của VC?

Vượt Biển Một Mình

Trường Hận

Thư Mời Tham Dự Ðại Hội Ân Tình IV Honolulu

Đại Hội Ân Tình IV Tại Honolulu - Hạ Uy Di

Thơ gởi chị

Những Tình Khúc Chiến Trường Một Thời Tuổi Lính

Lớp học Viết Văn hàm thụ miễn phí

Ðầu Tháng 4/1975, Bỏ Ngỏ Thị Xã Phan Thiết

Giáo Sư Phạm Quang Giai

Vinh danh những Anh Hùng Bình Thuận

Tháng 4 Quốc Hận, Nhớ Về Ðại Ðội 118 ÐPQ Bình Thuận

Phan Uu Anh Lưu Trong Bút

Tin Thu Tuong Nguyen Tan Dung Tu Chuc

Thành quả Bình Ðinh Phát Triên Bình Thuận Của Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa

Chuyện dài về ông rễ của Nguyễn Tấn Dũng

Trận Phục Kích Chiến Xa CSBV Tai Lương Sơn Ðêm16-4-1975

Ðoc ' Bình Thuận Quê Hương Một Ðời Yêu Dấu ' của MG

Biển Ðông nổi sóng, Mỹ làm gi ?

Tàu đỏ đụng độ với Mỹ trên Biển Ðông

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
Bài Viết
Hướng Về Bình Thuận Ðể Thương Nhớ và Tri Ân
HƯỚNG VỀ BÌNH THUẬN ÐỂ HOÀI VỌNG VÀ TRI ÂN



MƯỜNG GIANG

Hơn ba thế kỷ thăng trầm, một vùng đất rộng mông mênh lần lượt bị cắt chia, tan hợp. Rốt cục Bình Thuận trước sau gì cũng vẫn là Bình Thuận, cũng cát, gió, tháp Chàm, những con sông mùa nắng cạn nước và biển xanh sóng dậy ven bờ.

Mọi người bảo Bình Thuận là đất vua ở, vì nơi đây có Lạc Trị, Hâu Quách, Tịnh Mỹ, Phố Hải, Ma Lâm Chàm.. còn lưu dấu đầy bia ký, lăng mộ, cùng nhiều kỷ vật thời xưa của các vị tiên vương Chiêm quốc. Ðó là chưa kể Phố Hải từng là nơi phát tích của thị tộc Cau (Kramucavamca) ở phương nam vào thế kỷ thứ VI sau Tây Lịch, mà di tích còn sót lại tới ngày nay là hai tháp Chàm trên đồi Ngọc Lâm.

Mọi người cũng bảo Bình Thuận là đường vua đi vì khắp nơi từ Bảo Sơn tự ở Tuy Phong vào tới Bửu Sơn tự trên núi Cố (Phú Hài) và còn ra tận đảo Phú Quý xa tít muôn trùng ngoài Biển Ðông.. đâu đâu cũng đều có vết chân của Chúa Nguyễn Ánh trong thời gian tẩu quốc.

Bình Thuận là nơi Nguyễn Tất Thành trong lúc bị dồn vào đường cùng vì cha là Nguyễn sinh Sắc bị bãi chức tri huyện Bình Khê, Bình Ðịnh do uống ruợu say đánh chết người, nên Thành phải tìm đường mưu sinh và được vào dạy học tại trường Dục Thanh Phan Thiết. Bình Thuận là nơi cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm từng làm quan hai lần : Tri Phủ Hoà Ða và Tuần Vũ Bình Thuậạn. Ninh Chử, Phan Rang (Ninh Thuận) cũng thuộc Bình Thuận là sinh quán của cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.

Tất cả những người đã đặt chân qua Bình Thuận như Nguyễn Ánh, Nguyễn Tất Thành, Ngô Ðình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu về sau đều làm vua, chủ tịch, tổng thống.

Ngày nay nhắc tới vua Gia Long Nguyễn Ánh, người Bình Thuận hoài niệm về những cái tên chùa trang trọng ý nghĩa được Ngài sắc tứ ban tặng.

Ngày nay nhắc tới Hồ chí Minh - Nguyễn tất Thành, ngoại trừ phe đảng Việt Cộng hại dân bán nước, thử hỏi có ai muốn nhắc tới trường Dục Thanh bởi vì những chứng tích của nó làm nát hồn mọi người khi đau lòng nhớ lại. Thôi thì cứ quên để khỏi nhớ thêm hổ thẹn trăm chiều trước nỗi vẽ rắn thêm chân, chỉ hươu nói ngựa.

Ngày nay nhắc tới Ngô Ðình Diệm, người Bình Thuận lại nhớ tới những xóm làng thôn ấp mọc lên từ các vùng lau sậy hoang vu, những nơi có thần cây đa ma cây gáo, những đồi hoang biển vắng khắp Phan Thiết, La Gi, Ðức Linh , Sông Mao, Thanh Hải.. nhưng kỹ niệm ấm lòng nhất của người quá cố, là câu chuyện của hai người bạn tri kỷ, tri tâm: Ngô Ðình Diệm - Hoàng Tỷ, trong những ngày cuối năm, ông Tổng Thống của một nước đứng trước mồ cố nhân, sụt sùi kể lễ, nhắc nhớ tâm tình.

Ngày nay nhắc nhở tới Nguyễn văn Thiệu, người Bình Thuận chẳng qua chỉ nhắc tới một giai đoạn lịch sử thăng trầm, thế thôi.

Hỡi ôi Bình Thuận là bãi chiến trường ba trăm năm cũ, người đến người đi dấy lên rồi tàn lụn, xô nghiêng hay tạo dựng sông núi để được tiếng đời là minh quân hay bạo chúa, thì chuyện nay đổi mai đời đã rỏ, dù sử sách hôm nay hay ngày mai ghi không hết kịp, thì đã có bia đời, bia miệng như người Bình Thuận đã ghi những chuyện Việt Minh, Tây Tà qua suốt bao năm tang thương ngẩu lục

Ngày nay khách phương xa tới chơi Bình Thuận, nơi từng là đất vua ở, đường vua đi, vào giữa độ xuân về hay trong các mùa lễ hội, không có gì thích thú cho bằng leo lên chiếc xe ngựa cũ kỷ hiện vẫn còn chạy đầy Phan Thiết. Bởi vì chỉ có trong khoãng không gian này, rất có thể giữa tiếng vó ngựa lộp cộp xen lẫn tiếng lục lạc len keng, bác xà ích sẽ kể cho mọi người nghe những giai thoại thật đẹp của miền biển mặn mấy mươi năm về trước và sự đổi thay của mấy mươi năm về sau, nhưng sau trước gì thì Bình Thuận cũng vẫn là chốn thân quen của mọi người tự thuở nào. Tóm lại Bình Thuận là đất lành với những sự kiện đầy thú vị :

1- Là ngư trường lớn nhất miền Trung, đứng thứ 2 cả nước, chỉ sau Kiên Giang.

2- Phan Thiết nâng cấp lên thành phố ngày 25-8-1999.

3- Tượng Phật nhập niết bàn trên chùa núi Tà Cú (Nam Hàm Thuận), lớn nhất nước với chiều dài 49m, cao 6m, được hoàn thành cuối năm 1962 ở cao độ 475m.

4- Lầu nước Phan Thiết bên bờ tả ngạn sông Cà Ty được đánh giá đẹp nhất nước, do nhà thầu Ung Du xây dựng từ năm 1928-1934, cao 32m, miên viễn là biểu tượng thân thương của người Bình Thuận khi nhớ về quê cha đất tổ.

5- Vạn Thủy Tú ở Ðức Thắng Phan Thiết thờ Nam Hải Ðại Tướng Quân, lớn nhất Việt Nam, có 24 sắc thần và còn giữ được 100 bộ ngọc cốt.

6- Hồ Biển Lạc cạnh chân núi Cà Tong, Tánh Linh rộng nhất Việt Nam với diện tích 1000 ha mùa cạn, 3000 ha mùa mưa.

7- Bình Thuận sản xuất nhiều thanh long nhất nước hiện nay (70%).

8- Bãi đá Cà Dược (Tuy Phong), được xem là đẹp nhất trong các bãi đá ở Việt Nam với hàng trăm màu sắc khác nhau.

9- Bình Thuận có nhiều đồi cát đẹp nhất Việt Nam như các đồi mang tên Tiểu sa mạc, Chu Mộng, Trinh Nữ, Hoàng Hậu.

10- Bình Thuận có nhiều sò điệp nhất Việt Nam (75%).

11- Bình Thuận có hải đăng Kê Gà xưa và cao nhất Việt Nam, dựng năm 1899, cao 54m, thuộc quận Ham Tân (Bình Tuy-Bình Thuận).

Ðời đã khác đi nhiều nhưng vẫn là cái nền mờ tỏ của bao đời tạo dựng nên ba trăm năm qua đã sản sinh không biết bao nhiêu ‘ Anh Hùng ố Liệt Nữ ‘ và những trang tài tuấn hơn đời :

1 - HƯỚNG VỀ BÌNH THUẬN :

+ NGUYỄN THÔNG (1827-1884?) Sự nghiệp một thời, danh thơm mãi mãi.

Bắt đầu làm quan từ năm 1849 cho tới khi mãn phần tại Phan Thiết năm 1884?, sự nghiệp của Nguyễn Thông hầu như gắn liền với sự điêu đứng của đất nước suốt thời kỳ vua Tự Ðức trị vì trong đầu thế kỷ XIX.

Trong sự nghiệp một đời còn lưu lại cho hậạu thế, ta được biết ngoài văn hay chữ tốt, ông còn làm được nhiều việc lớn lao có ích cho dân, lợi cho nước như xin vua chọn nhân tài để làm quan, khai khẩn đất hoang vùng tây nam Bình Thuận và quan trọng hơn hết là hoạt động bí mật trong cục tình báo phương nam của triều đình Huế để chống lại giặc Pháp. Tiếc thay vì các tài liệu quý giá có liên quan tới tầng lớp sĩ phu yêu nước Việt Nam thời kỳ đó, phần lớn đã bị thực dân tiêu hũy, và sau này trong chương trình giáo dục cũng ít đề cập tới vì chính sách mập mờ lưng chừng. Do tình trạng trên chúng ta chỉ biết đại khái về các bậc tiền bối trên. Nhưng dù thế nào chăng nữa thì ta cũng không thể không cảm động trước tâm tình yêu nước nồng nàn của người xưa đã khuất:

“bãi sông mưa tạnh chim về

tù và ai rúc bóng che nửa lầu

lửa thiêu thành quách nào đâu?

bạn xưa gặp nạn, dãi dầu long đong

Ðổ Lăng xa nước khóc ròng ..”

Về cái chết của Nguyễn Thông đến nay vẫn còn nhiều nghi vấn. Theo các tài liệu cũ trong Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, Thành Ngữ Ðiển Tích của Trịnh văn Thành, Tự Ðiển Văn Học và bài viết của Bùi quang Tung dựa theo tư liệu gia đình do cháu ba đời của cụ là Bác sĩ Nguyễn quý Phầu, đăng trong Tập San Sử Ðịa năm 1966 thì Nguyễn Thông sanh năm 1827 và mất năm 1894 thọ 64 tuổi. Nhưng theo hầu hết các tài liệu sau năm 1975, thì Nguyễn Thông sinh năm 1827 và mất năm 1884. Sự khác biệt này đến nay vẫn chưa được kiểm chứng.

Nguyễn Thông người Gia Ðịnh thành nay là Tân Thạnh, Kỳ Sơn, Tân An, tỉnh Long An, con của cụ Nguyễn Hạnh và bà Trịnh thị A Mầu, vốn giòng nho gia. Năm 18 tuổi Nguyễn Thông đổ Cử Nhân khóa 1849 đời Tự Ðức, được bổ làm huấn đạo tại Phú Phong (An Giang). Ông tự là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu là Ðộn Am, kết hôn cùng tằng tôn của Ngô nhân Tịnh là Ngô thị Thuý A , được hai người con trai là Nguyễn trọng Lội và Nguyễn Quý Anh và nhiều con gái.. Ông Nguyễn trọng Lội là một trong những người lập công ty Liên Thành và trường Dục Thanh tại Phan Thiết.

Trên đường hoạn lộ, Nguyễn Thông cũng ba chìm bảy nổi vì tính tình trung trực và liêm khiết khác với bọn quan lại đương triều. Năm 1859 Pháp xâm lược Việt Nam, ông tòng quân dưới trướng Tôn thất Hiệp. Năm 1862 bổ nhiệm Ðốc Học Vĩnh Long dưới quyền Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản. Năm 1867, Pháp chiếm ba tỉnh miền tây, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử, Ông cùng một số quan lại như Trà quý Bình, Trần thiện Chánh, Trương gia Hội.. chạy về tị địa tại Bình Thuận.

Tại đây các sĩ phu lại tiếp tục chống Pháp, lập căn cứ, đồn điền, phát triển nông vụ, khai hoang lập ấp để tính chuyện chiến đấu lâu dài với giặc. Cũng trong năm 1867, ông được cử làm Án Sát Khánh Hòa rồi Quảng Ngãi. Năm 1870 về Huế làm Hình bộ rồi thăng Bố Chính Quảng Ngãi. Từ năm 1873-1874 lui về ở ẩn tại sơn trung Bình Thuận, cùng giới trí thức địa phương ngâm thơ vịnh nguyệt. Năm 1876 về kinh giữ chức Tu Nghiệp Quốc Tử Giám cùng các quan, khảo duyệt bộ Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Năm 1877 về Bình Thuận giữ chức Dinh Ðiền Sứ , lo chuyện khẩn hoang vùng tây nam Bình Thuận. Năm 1880 lập Ðồng Châu Xã khuyến khích dân địa phương phát triển nghề nông và ra sức giáo dục lớp tuổi trẻ. Ông mất năm 1884 hay 1894? tại Ngoạ Du Sào, một căn nhà nhỏ, bên cạnh dòng sông Mường Mán, trên vách có vẽ nhiều tranh cảnh tiêu biểu cho lý tưởng của ông lúc sinh thời. Hiện phần mộ của ông nằm trên đồi Ngọc Lâm, sát chân núi Ngọc Sơn, gần Lầu ông Hoàng và Tháp Chàm Phố Hải. Sau năm 1975, Ngoạ Du Sào tức là trường Dục Thành bị giặc chiếm làm bảo tàng, không biết tới bao giờ châu mới hoàn hiệp phố.

+ Kỹ Sư LÂM TÔ BÔNG, khuông mặt khả ái của Bình Thuận.

Sinh năm 1915 tại Quảng Ngãi nhưng ông luôn coi mình là người Bình Thuận khi lập gia đình với bà Hồ Tiểu Sinh. Vì thế cuộc đời của ông đã gắn liền với các sinh hoạt của Phan Thiết như phong trào Hướng Ðạo Sinh 1945-1950, công cuộc tế bần 1942-1945 và điều hành trường tư thục Cẩm Bàn.. Theo Trương Tiến Huân, thì trong vụ đói năm Ất Dậu 1945 tại Bình Thuận, đoàn Hướng Ðạo do ông Lâm tô Bông lãnh đạo, đã quyên góp tiền bạc, thực phẩm chung phần cứu trợ, đồng bào bất hạnh tại Miền Bắc.

Năm 1937 trường tiểu học Cẩm Bàn tại Phan Thiết được khai giảng do ông Lâm tô Bông làm Hiệu trưởng. Năm 1946 trường Cẩm Bàn đóng cửa vì hoàn cảnh chiến tranh. năm 1949 ông đậu bằng Kỷ Sư về ngành dệt và kéo sợi tại Pháp cũng là người Việt Nam đầu tiên sáng chế ra máy dệt tay và tự động với nhản hiệu ‘Tô Bông’ đến nay vẫn còn nhiều người xữ dụng. Thời Việt Nam Cộng Hòa, ông đãm trách nhiều chức vụ quan trọng và then chốt trong công ty dệt cũng như Bộ Kinh Tế. Sau năm 1970, Kỷ Sư Bông phục vụ tại cơ quan Unesco thuộc Liên hiệp quốc và nghĩ hưu với gia đình tại Gia nả Ðại và mất năm 1994 thọ 79 tuổi. Viết về ông, ai cũng muốn nhắc lại mối tình thơ mộng giữa một chàng trai xứ Quảng hào hoa và cô gái hàng sách có cái tên thật dễ thương ‘người áo trắng’. Ðây mới chính là nét khả ái của Lâm tô Bông và những ngày Phan Thiết.

+ VŨ ANH KHANH : MỘT THỜI ÐỂ NHỚ

Cũng do thành kiến chính trị và lòng dạ đen bạc nhỏ nhoi của con người, mà cả hai miền đất nước trước ngày 30-4-1975 và sau này, phần lớn tác phẩm tranh đấu của Vũ Anh Khanh đều bị cấm đoán, đồng thời gạt hẳn tên trong chương trình giáo dục bậc Trung và Ðại học. Sỡ dĩ có sự phân biệt và hận thù trên vì bản chất thực dân, cướp của giết người, ở đâu, thời nào cũng giống nhau dù là thực dân Pháp hay Việt Nam xanh đỏ. Những bản cáo trạng của Vũ Anh Khanh viết lên để hành tội kẻ cướp nước ngoại lai hiện nay vẫn còn giá trị đối với bọn Mafia đỏ đang ngồi trên chín bệ ăn xương uống máu đồng bào. Thái độ đối xữ bất công của kẻ cầm quyên đối với ngưòi chiến sĩ đã xã thân cho quốc gia dân tộc, khiến cho ngày nay hầu như không còn mấy ai, kể cả người Bình Thuận biết và nhớ tới Vũ Anh Khanh.

Ông là một khuôn mặt lớn của thời đại, một nhà báo, nhà văn, nhà thơ lừng lẫy trong dòng thơ kháng chiến chống thực dân Pháp tại Nam Kỳ từ năm 1945-1950. Tên tuổi cũng như tác phẩm của Vũ anh Khanh lúc đó vang dậy khắp các hang cùng ngõ hẹp, từ thành thị cho tới thôn quê, đồng thời với các nhà văn tên tuổi khác cuả miền Nam như Quốc Ấn, Thiết Can, Dương tử Giang, Thẩm thệ Hà, Vỏ hoà Khanh, Sơn Khanh, Trúc Khanh, Lý văn Sâm, Triều Sơn, Hồ hữu Tường, Bùi nam Tử, Phi Vân, Bách Việt..

Sinh và lớn lên tại Mũi Né, Phan Thiết, trước khi bước vào con đường kháng chiến tại Sài Gòn, Vũ Anh Khanh đã trải qua một thơì gian tuổi nhỏ tại Bình Thuận. Chính nơi được mệnh danh là chốn rừng tiền biển bạc nhưng dưới ách thống trị của thực dân Pháp, khiến cho hầu hết dân chúng chịu cảnh lầm than, đói rách, ngu dốt, lạc hậu. Chính ký ức trên đã nung nấu trái tim tài hoa của ông, hoàn thành những tác phẩm rực lửa để đời.

Nhưng xưa nay tài hoa và số mệnh vốn đố kỵ nhau nên Vũ Anh Khanh đã sớm chết oan khiên khi tài hoa và tuổi đời đang rực nở. Ông chết vì tỉnh ngộ, khi tận mắt chứng kiến mặt thật của cái ảo tưởng thiên đàng xã hội chủ nghĩa ngày nào, đã sụp đổ tại miền Bắc, qua các cảnh đấu tố, giết người, thương vong bại lý, thay trắng đổi đen của người Cộng Sản. Lý tưởng vở tan, Vũ Anh Khanh giống như các bộ đội miền Nam tập kết của Tạ Ký, Ðồng văn Cống, Năm Ngà.. theo như nhà văn Xuân Vũ đã viết trong: “Người chết không mồ”, đăng trên Văn Hoá Việt Nam số 14/2001, ông viết Vũ Anh Khanh nhân kỳ nghỉ phép, đã sửa thông hành từ Vĩnh Phúc thành Vĩnh Linh, để vào Quãng Trị vượt biên, bơi qua đoạn sông Bến Hải, phía trên thượng nguồn cầu Hiền Lương chừng vài cây số, thì bị bộ đội biên phòng bờ Bắc bắn chết bằng tên tẳm thuốc độc để không bị ai phát giác. Xác của người bạc mệnh được kéo lên vùi dập đâu đó trong khu phi quân sự, không một ai biết và cũng chẳng ai dám biết về một người vượt tuyến bị bắn chết.

Ông tên thật là Vũ văn Khanh, sanh năm 1926 tại Mũi Né, Bình Thuận. Ngoài bút hiệu Vũ Anh Khanh, năm 1951 khi viết truyện ngắn ‘Mắt xanh sống vẫn lầm than bụi đời’ đăng trên tờ xuân Việt Nam, ông ký tên Vương Âú Khương. Trong dòng người tuổi trẻ nổi tiếng lúc đó, chỉ có Vũ Anh Khanh là người miền Trung (Bình Thuận), nhưng lại là một kiện tướng lừng lẫy với những tác phẩm đấu tranh chống Pháp sắt thép. Ðặc biệt sách của ông nhiều cuốn bị cấm đọc vào thời đó, cả bây giờ nhưng lại bán chạy vì ai cũng muốn đọc. Trong số này, truyện dài ‘Bạc Xíu Lìn ‘do nhà xuất bản Tiếng Chuông in năm 1949, chỉ trong vòng hai tháng đã bán hết 10.000 cuốn, phải tái bản nhiều lần. Nói chung, theo Giáo Sư Nguyễn văn Sâm trong “Văn Chương Nam Bộ và cuộc Kháng Pháp 1945-1950”, thì hầu hết tác phẩm của Vũ anh Khanh rất có giá trị vì tiêu biểu được ước vọng của toàn dân lúc đó, là đánh đuổi được giặc Pháp và dành lại độc lập cho Việt Nam, dù là thơ như Chiến Sỉ Hành (Tân VN, SG 1949), hay truyện dài như Nữa Bồ Xương Khô 1 & 2 (Tân VN, SG 1949), Bạc Xiú Lìn (Tiếng Chuông, SG 1949), Cây Ná Trắc (Tân Việt SG, 1947), truyện ngắn Ngủ tử Tư (Tân VN, SG 1949), Ðầm Ô Rô (Tiếng Chuông, SG 1949), Sông Máu (Tiếng Chuông SG 1949) và Bên kia Sông (Tân VN, SG 1949). Tóm lại Vũ Anh Khanh là một văn nghệ sĩ kháng chiến chống Pháp, ông đã dùng ngòi bút qua các tác phẩm, vẽ lên một cách đầy đủ các bức tranh vân cẩu Việt Nam thời loạn, văn ông linh động, có lúc thấm thiết lâm ly, khi thì cay độc miã mai nhưng vẫn không dấu nổi sự cảm khái hùng hồn, chứa chan niềm uất hận của kiếp người bị trị.

Công hay tội đều do lịch sử phán xét, nên chỉ biết bâng quơ viết về gốc khuất của một phần đời nhà văn Vũ Anh Khanh, người chiến sĩờ bị đời quên lãng. Bất chợt tâm hồn cảm xúc bồi hồi như có ai thầm thì bên tai: “hãy khóc lên đi cho quê hương yêu dấu.”

+ DŨNG CHINH, sống mãi với Những Ðồi Hoa Sim.

Tên thật là Nguyễn văn Chính sinh tại Bình Hưng Phan Thiết, con ông Nguyễn xuân Hước, Trưởng Ty Bưu Ðiện Bình Thuận. Bản tính hiền lành ngay từ lúc còn đi học, Dũng Chinh đã hoạt động văn nghệ trong gia đình Phật tử Phan Thiết và tài năng đã nẩy nở từ đó.

Ðầu tiên Dũng Chinh ở trong binh chủng hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Bộ ba Dũng Chinh, Anh Thi và Huy Hoàng (cũng Phan Thiết), đi khắp sông hồ nơi có bóng hải quân để trình diển. Là một ca sĩ kiêm nhạc sĩờ nên biết xữ dụng đủ mọi nhạc cụ kế cả trống, sáng tác nhiều ca khúc để đời như Tách Trà Xưa, Tha La Xóm Ðạo (phổ thơ Vũ Anh Khanh) nhưng có lẽ Chinh thích nhất là bài “Những Ðồi Hoa Sim”, phổ thơ Hữu Loan.

Giữa thập niên 60, Dũng Chinh thuyên chuyển về làm Ðại Ðộầi Trưởng một đại đội tác chiến thuộc Trung đoàn 45/SÐ23BB và bị tử thương trong cuộc phục kích tại An Phước, Ninh Thuận. Sau đó Dũng Chinh được chôn tại nghiã trang quân đội Nha Trang trên đèo Rù Rì. Một đĩa nhạc “màợu tím hoa sim” được những người thân đặt nơi phần mộ, để chiều chiều, sáng sáng hay giữa lúc khuya buồn, nhớ nhà, nhớ Phan Thiết, Dũng Chinh lại hát:

‘bình hương xưa ngày cưới

nay thành bình hoa tàn lạnh vây quanh.. ’ ’

+ NHẬT TRƯỜNG, TRẦN THIỆN THANH, Anh Không Chết Ðâu Anh.

Là một tên tuổi lừng lẫy trong giới ca nhạc sĩ miền Nam suốt hai thập niên 60, 70 và tới bây giờ. Những ca khúc của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết về quê hương điêu tàn trong thời lửa loạn, về thân phận của người lính chiến nổi trôi theo vận nước, về những điạ danh bất tử trong dòng quân sử cận đại Ashau, Ia-Dran, Kon Tum, Tân Cảnh.. sẽ miên viễn như Ðại Tá Bảo tại Charlie “Anh không chết đâu anh”.

Nhật Trường tên thật là Trần Thiện Thanh sinh tại Phú Trinh Phan Thiết. Cựu học sinh trường Nam Tiểu Học Phan Thiết, Phan Bội Châu, Tiến Ðức và Ngô đình Khôi.. Phụ thân là Trần thiện Hải cũng là một nghệ sĩ kiêm soạn giả nổi tiếng của Phan Thiết. Chất nghệ sĩ và núi sông miền biển mặn đã tạo cho Nhật Trường một khả năng sáng tạo đặc biệt cộng thêm lối trình diễn sôi động độc đáo làm cho tên tuổi của người ca nhạc sĩ tài hoa đất Phan Thành vang danh theo bước chân lính khắp các vùng chiến thuật. Ðâu có lời nào buồn hơn, thắm thiết hơn và làm rơi nước mắt khi bất chợt nghe được những não nùng từ “anh về với em rồi mai lại đi” hay “vào một đêm sương có người trai hồi hương, báo một tin thật buồn” hoặc “từ khi đôi đứa đôi đàng..”

Về quê hương Phan Thiết, ngoài ca khúc Lầu ông Hoàng, Hàn mạc Tử, nhạc phẩm “Biển Mặn” đã gói ghém trọn vẹn tình của người miền biển, theo con sông phát nguồn từ Trường Sơn chất ngất, ôm ấp tình thương, nước ra sông nguồn.. Xóm Lụa, Phú Hài, Cà Ty, Thương Chánh..

Trần Thiện Thanh qua đời nhưng tên tuổi của ông mãi sống trong hồn người dù “nếu em biết rằng có những người đi đấu tranh chưa về.. vì mang lời thề lên miền sơn khê..”

+ LÊ HƯƠNG, nhà biên khảo số 1 của Bình Thuận.

Nổi danh từ năm 1952 với tác phẩm ‘Quả đấm thôi sơn’. Sau đó ông đã tự chọn cho mình một lối đi gần như cô độc giữa phong trào trăm hoa đang đua nở trong vườn ngự uyển của miền Nam. Ðó là viết phóng sự, một bộ môn gần như bị chê vì tính cách khô khan, không lối thoát , vậy mà ông đã thành công với những tác phẩm sưu khảo giá trị vượt thời gian.

Tên thật là Lê quanh Hương sinh ngày 22-9-1922 tại Cao Lãnh, Kiến Phong nhưng gia đình đã tị địa tại Phan Thiết, Bình Thuận lâu đời và có nhiều người khác cũng nổi tiếng như Lê quang Nghiêm (em ruột) giải nhất biên khảo 1969 của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, về tác phẩm: “Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh Hòa”. Ngoài ra còn Lê hữu Lễ và Trịnh thi Hương.. cũng là các nhà báo nổi tiếng của Bình Thuận.

Sống nhiều năm trên đất Chùa Tháp từ 1942, giúp ông thông thạo Miên ngữ cũng như các phong tục tập quán của người địa phương nên đã viết được nhiều tác phẩm biên khảo để đời, qua hình thức ký sự. Góp phần tạo nên sự thành công trên là nhờ phần lớn thời gian làm thông tín viên cho Việt Nam thông tấn xã tại Cao Mên, cũng như phụ trách nhiều tờ báo của Việt kiều Kampuchia, nên ông có những dữ kiện lịch sử chính xác, làm cho tác phẩm không bị cô động. Ðiểm đặc biệt nữa của Lê Hương là văn chương ông rất sâu sắc, gần như bi phẩn cay cú, trước nổi tân khổ của kiếp người Việt Nam trong thời loạn.

Là người Phan Thiết nên ông rất am tường về phong tục tập quán của người Bình Thuận và đã kể lại trong “ Truyện ký Việt Nam” nhiều chuyện xưa tích cũ của Bình Thuận ba trăm năm qua như chuyện Cô Gái Không Xương ở Phan Rí, Long Vương Lấy Gỗ năm lụt Nhâm Thìn 1952, Chuyện Người Pháp trù ếm dân Bình Thuận tại Núi Cú, Người Hoa hãm hại người Hoa ở Phan Thiết..

Tóm lại Lê Hương là nhà biên khảo lớn của miền Nam trước năm 1975, được giãi nhất phóng sự 1969 của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam qua tác phẩm ‘Chợ Trời Biên Giới’. Ngoài ra còn có Người Việt gốc Miên (1969), Tìm Hiểu Angkor (1969), Sử Cao Mên (1970), Việt Kiều tại Kampuchia (1971), Sử Liệu Phù Nam (1974)..

+ THU NHI

Thu Nhi họ Nguyễn sinh 1932 tại Bình Hưng, Phan Thiết. Nguyên là giáo sư Việt Văn trường Trung học Bồ Ðề Phan Thiết.

Sau bài tùy bút đầu tiên đăng trên Phụ Nữ Diễn Ðàn vào khoảng 1955, Thu Nhi có các bài viết kế tiếp đăng trên nhật báo Sài Gòn Mới.

Cuối năm 1962 cô bắt đầu viết truyện ngắn, bút ký và thơ cho tạp chí Phổ Thông của Nguyễn Vĩ, thơ cho tạp chí Bút Hoa. Ðâù thập niên 70, cô viết chuyện dài Thuyền Trôi cho nhật báo Công Luận.

Thu Nhi là thành viên của tao đàn Bạch Nga từ năm 1963 và hội Văn Bút Việt Nam năm 1972.

Cô đã xuất bản thi tập Trắng Ðêm năm 1964. Hiện đã viết xong 14 Chuyến Ði Ðáng Nhớ như Tản Cư, Vào Tù, Vượt Biên, Ði Nói Chuyện Thi Ca, Ði Tây, Ði Tàu, Ði Nhật nhưng tập sách nầy chỉ xuất bản khi có người viết về chuyến đi cuối đời của Thu Nhi.

Thu Nhi là Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Ðình Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ suốt ba nhiệm kỳ đầu 1983-1992, Phó Trưởng Ban Hướng Dẫn Gia Ðình Phật Tử Việt Nam Hải Ngoại từ 1995 cho đến ngày xuất gia.

Thu Nhi là người sáng lập hội Thân Hữu Bình Thuận Hải Ngoại tại Nam Cali 1995 và là vị hội trưởng đầu tiên.Hiện cô đã xuất gia pháp hiệu là Thích Nữ Huệ Tâm.

+ NGUYÊN CHI :

Nguyên Chi tên thật là Nguyễn Lương Chỉ, bác sĩ y khoa, sanh năm 1935 tại Phú Trinh, Phan Thiết. Ông bước vào kịch nghệ vào năm 1950 lúc còn ở Nha Trang trong Thanh Nhạc Kịch Ðoàn. Ông bắt đầu sáng tác khi còn là sinh viên của Ðại Học Y Khoa Sài Gòn. Các nhạc phẩm của Nguyên Chi đã được phát trên đài phát thanh Sài Gòn:

- Tìm Vào Vòng Tay, Thái Thanh trình bày.

- Ðợi Chờ, Thanh Thúy hát cho ban nhạc Hoàng Thi Thơ.

- Còn Ðâu Nữa Em, sáng tác chung với Tâm Giao Nguyễn Hoàng Chung, Hà Thanh thu vào dĩa Continental.

Tại hải ngoại, Nguyên Chi cùng với Hoàng Cầm đã sáng tác nhiều nhạc phẩm trong các CD Xa Xứ, Trái Tim Lầm Lở và Dù Một Lời Gian Dối. Riêng CD Xa Xứ đã được phỏng vấn trên đài VOA năm 1998.

Hai nhạc sĩ cũng được biết tiếng qua phần sáng tác nhạc chủ đề cho các vở kịch nổi tiếng Lá Sầu Riêng, Lồng Ðèn Ðỏ và Sông Dài. Hai ông cũng là tác giả của hai nhạc phẩm Lồng Ðèn Vàng và Ðừng Hỏi Tại Sao trong Video Thế Giới Nghệ Thuật 2 và 3.

Cùng với Hoàng Cầm, Nguyên Chi còn chứng tỏ khả năng viết kịch tiềm tàng của một bác sĩ y khoa qua các vở kịch:

- Trường bi ca nhạc kịch Huyền Sử Tây Thi gồm mười nhạc khúc đã được trình diễn tại đại hí viện La Mirada miền Nam Cali năm 1999.

- Kịch Chia Tay Mùa Thu với hai hai nhạc phẩm Chia Tay Mùa Thu và Hứa Với Em, vào năm 2000.

- Bi hài kịch tâm lý xã hội Ngôi Nhà Cấm Ðàn Ông với nhạc phẩm Ví Dụ Ta Quen Nhau, vào năm 2001.

Ngoài ra Nguyên Chi đang chuẩn bị phát hành CD Những Tình Khúc của Hoàng Cầm và Nguyên Chi vào năm 2002.

Trong niềm thương nhớ gởi về quê hương, Nguyên Chi đã phổ nhạc hai bài thơ dành riêng cho hội Thân Hữu Bình Thuận do Bảo Phương trình bày trong Nhạc Hội Bình Thuận 20 năm Viễn Xứ năm 1995 và Nhạc cảnh trong đêm Dạ Vũ Gây Quỷ Bình Thuận tại khiêu vũ trường Majestic, Huntington Beach năm 1998:

- Mẹ, thơ bác sĩ Tùng Khanh, ái nữ của Nguyên Chi.

- Phan Thiết ơi! Phan Thiết, thơ Mường Giang.

+ NHẬT NGUYỄN, con sơn ca trong vườn ngự.

Tên thật là Nguyễn thị Nhật Tân, sinh tại Phan Thiết, Bình Thuận, cựu học sinh Phan Bội Châu.

Nhật Nguyễn vào quán bên đường rất trể, không ai giới thiệu cũng chẳng bạn bè nhưng một vài chiếc lá đề thơ của người thơ vô tình bay vèo nơi khung cửa bất chợt làm mọi người xôn xao và nhận ra tiếng hót cao vút của con sơn ca trong vườn ngự Phan Thiết. Nhật Nguyễn xuất hiện trên văn đàn Việt Nam hải ngoại từ năm 1996, cộng tác với nhiều tạp chí như Văn Học, Văn, Chủ Ðề, Văn Tuyển, Văn Hoá Việt Nam..

Nhiều truyện ngắn đã đăng trong Tuyển Tập 14 Tác Giả do Văn Tuyển xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ và sắp cho chào đời đưa con đầu lòng “Giữa mùi hương và bóng tối” gồm 20 truyện ngắn. Tóm lại, dù thơ hay văn, dù viết về một đề tài nào, tình yêu hay mảng đời quá khứ nơi ngưỡng cửa học đường của một thời tuổi dại, con chim sơn ca Nhật Nguyễn cũng hót đủ những lời ca, vang vang khúc nhạc hồng, làm cho mọi người bâng khuâng từng hơi thở, nơi phiến lòng chơ vơ.
+ CÁT BIỂN

Cát Biển tên thật là Nguyễn Văn Sáng, sinh năm 1950 tại Ðức Nghĩa, Phan Thiết, Bình Thuận. Sau khi rời trung học Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1968, anh tiếp tục việc học tại Ðại học Luật và Vạn Hạnh Saigon, nhập ngủ Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang năm 1969 và sau đó phục vụ trên các chiến hạm. Năm 1973 anh được cử đi Du Tập với Ðệ Thất Hạm Ðội Hải Quân Hoa Kỳ tại 21 quốc gia Á Châu.

Ðịnh cư tại Hoa Kỳ năm 1975, Cát Biển đã tốt nghiệp BSEE tại Wilkes University, MSEE tại University of Houston, MBA tại Chapman University.Cát Biển đã từng là President của Toastmaster International, Club 11 năm 1985-1987, đã đoạt First Place các giải diễn thuyết tại Texas năm 1984, California năm 1985, và đại diện Hoa Kỳ trong kỳ thi World Championship of Public Speaking năm 1985. Qua các bài tường trình trên Los Angeles Times và Orange County Register, Cát Biển được nhóm Người Việt mời làm Xướng Ngôn Viên đài Truyền Hình Việt Nam tại Nam California năm 1985-1990. Ngoài ra, anh còn giữ chức vụ Director, New Products Development Dept., BEI tại Little Rock, Arkansas năm 2001.

Cát Biển là Hội Trưởng Hội Thân Hữu Bình Thuận kỳ 3, năm 1999-2001. Thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ của thân phụ, nghệ sĩ Phan Sinh, Cát Biển đã thực hiện nhiều nhạc cảnh đặc sắc và đầy thử thách trong các sinh hoạt của hội như nhạc cảnh ‘Tiếng Dân Chài’ của Phạm Ðình Chương trong Ðêm Nhạc Hội Bình Thuận 20 Năm Viễn Xứ năm 1995, nhạc cảnh ‘Phan Thiết Quê Tôi’ của Thu Hoài Nguyễn trong Ðại Hội Bình Thuận năm 1997, và nhạc cảnh ‘Phan Thiết Ơi, Phan Thiết’, thơ Mường Giang, nhạc Nguyên Chi trong đêm Dạ Vũ Gây Quỷ Bình Thuận năm 1998 .

Cát Biển có nhiều bài viết về quê hương theo thể loại hồi ký và sở trường về thơ. Ðặc biệt thơ Cát Biển phản ảnh nhạy bén tâm tư của tác giả trước những biến cố thời cuộc. Thi tập Trùng Khơi Sóng Vỗ vừa xuất bản là tác phẩm đầu tay và là tập hợp của gần 70 bài thơ và đoản văn.

+HẢI TRIỀU: Lê Văn Hai

“..Nếu nghĩ rằng làm thơ hay viết văn như một cái nghề hoặc một cái nghiệp thì tôi không có mặt, song nếu nghĩ rằng trong giai đoạn này, viết hay làm thơ để chiến đấu thì tôi xin được có mặt.”

Lời viết trên đã quá đầy đủ để nói về nhà báo, nhà văn và nhà thơ Hải Triều, sinh năm 1943 tại Bình Thuận, Hải Triều tên thật là Lê văn Hai, còn có các bút hiệu khác như Bắc Phong, Lê khắc Anh Hào, cựu học sinh Phan Bội Châu, Ðại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Cựu Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu tù nhân Cộỳng Sản tại Kà Tót. Viết báo, làm thơ trước 1975, hiện cộng tác với nhiều báo chí hải ngoại, chủ bút Lửa Việt và Nguyệt San Việt Nam tại Canada. Ðã xuất bản nhiều thi phẩm giá trị.

+ PHẠM ÐÌNH THỪA, Vùng cát sông bồi.

Là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng qua các bài quan điểm, xã luận đăng rãi rác khắp các báo tại hải ngoại, Phạm dình Thừa còn là một người thơ có tâm hồn ướt át trữ tình, khiến cho tha nhân cũng buồn lây bất chợt.

Sinh và lớn lên tại vùng cát sông bồi, kế cạnh con sông Cà Ti bên bờ Ðức Nghĩa, Phan Thiết năm 1944, cựu học sinh trường Nam Tiểu Học Phan Thiết và trung học Phan Bầội Châu, cựu sinh viên Ðại Học Khoa Học Sài Gòn, cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, khóa 19 Vỏ Bị Ðà Lạt. Qua bút danh Phan Thiết, Phạm đình Thừa từ năm 1975 tới nay đã cộng tác với nhiều báo chí hải ngoại, chủ bút tờ “Ða Hiệu”của trường Vỏ Bị Quốc Gia nhiều năm, văn phong, tư tưởng luôn xứng đáng là Vũ Anh Khanh thời đại.

‘..tôi lớn lên bên dòng sông Mường Mán

con nước buồn mỗi độ chuyễn phù sa

hồn tuổi nhỏ theo tình sông lai láng

bập bềnh trôi trên vùng biển bao la.. ’ ’

Cát bồi sông lở, hay chính ta đang đứng chơi vơi nơi cõi muôn trùng để hoài vọng về đời trai chưa thỏa chí mà nước mắt đã lưng tròng.

+ SAO MAI

Sao Mai, Sương Mai, tên thật là Mai Minh, Phan Bội Châu 1963, sanh năm 1942 tại Ðức Nghĩa Phan Thiết. Tốt nghiệp Á Khoa Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn 1966, Mai Minh được chọn làm giáo viên kiểu mẫu trường Sư Phạm Thực Hành Sài Gòn từ 1966 đến 1975.

Ðịnh cư tại Mỹ 1975, dời từ Arizona đến Montana và về Cali năm 1978. Tốt nghiệp AA Degree về Electronics Technology 1982 tại Orange Coast College California, nhưng cô yêu phấn trắng bảng đen nên làm làm phụ giáo tại các trường trong Học Khu Newport Mesa từ1981 dến 2001. Nơi đây cô đã có dịp giúp đỡ nhiều đồng hương và các em học sinh trong bước đầu bỡ ngở nơi học đường mới.

Sao Mai có những bài viết về những mảnh đời lưu lạc và những bài tường trình các sinh hoạt của chùa cũng như hội Thân Hữu Bình Thuận đăng trên báo Phật Giáo Văn Học Nghệ thuật Xã Hội Trúc Lâm và đặc san Bình Thuận.

+ NGÔNG TRONG THƠ KHAI TRINH

Bỏ nước ra đi sống đời hắt hiu tha phương tội nghiệp, nhiều người nhớ nhà nhớ nước, ngày ngày lấy nước mắt làm canh chan cơm, cho vơi bớt nổi bâng khuâng một thời oai hùng và thơ mộng của dân tộc.. Tất cả đã bị giặc tàn phá bằng ý thức hệ ngoại lai khiến cho một nền văn hiến cổ của một dân tộc, gần như bị tiêu vong trong lặng lẽ như các thời Bắc thuộc, Pháp trị và gần nhất trong mấy chục năm qua dưới cùm gông cọng sản quốc tế.

Qua năm tập thơ TỰ SỰ của thi sĩ Khai Trinh, xuất bản ở hải ngoại liên tục từ năm 1998 tới 2002. Ðọc hết mấy trăm bài thơ của tác giả, thích thú vì quan niệm tình lý phân minh, thể hiện rõ ràng qua nét thơ, nét nghĩ, nét tự do độc đáo chứng tỏ cái hùng khí ngông cuồng, coi thường bạo lực, giỡn mặt tử thần.

Thơ không thể là thứ vô tâm, bởi thơ là gió, là biển là những hạt mọc lên từ đất nên thơ có hồn. Bởi vậy nếu chúng ta vốn là những kẻ tị nạn cọng sản, vì cọng sản mà bỏ nước ra đi, nay nếu từ bỏ lớp áo trên, nên dù có làm thơ hay viết văn thì thứ thơ văn trên cũng chỉ là thứ thơ vô tâm đất sét, có màu mà không có hồn, một thứ trò chơi chữ rỗng tếch. Ðây mới chính là nét độc đáo trong dòng thơ Khai Trinh, vì từ tập thơ đầu cho tới tập thơ năm 2002, nhà thơ lúc nào cũng làm thơ qua thân phận của người tị nạn, nói chuyện liên quan tới đời sống tị nạn, chuyện trong nước, chuyện ngoài nước, làm thơ như làm báo, thấy sao ghi vậy qua tâm tình của một trái tim hữu tâm, vui thì cười, buồn khóc.. rất bình thường nhưng đầy đam mê cảm lụy. Một khám phá quan trọng khác trong thơ Khai Trinh là khuôn phép chữ nghĩa, giá trị đạo đức. Chính điều này làm người đọc thơ Khai Trinh không thấy nản, dù nhiều bài khô ngắt, chát chua do thơ của ông tuy cạn tào ráo mán nhưng không phải là thứ thơ đấu tranh hùng hục, la hét om sòm. Trái lại đọc xong, người đọc vẫn có cái cảm khoái của một người lính trận, tay đang ghìm súng đợi giặc mà hồn vẫn lâng lâng nghĩ tới, nhỡ mai mình không về thì thương em đợi chờ héo hắt tình sầu.

Quê hương là của chung mọi người, có hồn, có máu không phải là một khái niệm trừu tượng. Nhà thơ cũng vậy nên phải biết trách nhiệm của mình trước quê hương, vừa anh hùng, vừa lãng mạng, cầm gươm ra trận khi biên cương khói lửa, yêu đời sửa đời, coi thường chuyện riêng tư nhưng vẫn lý sự. Ðó là cái cung cách thơ cuả Khai Trinh.

+ TIẾP SĨ TRƯỜNG, mảnh phi bào vẫn bay trong gió.

Tên thật cũng là bút hiệu, sinh và lớn lên nơi xóm Ðầm, một miền quê hương êm đềm như tranh thủy mặc của Phan Thiết, nay đã tan biến theo bụi cát đổi đời. Là cựu học sinh Phan Bội Châu, cựu Sĩ Quan hoa tiêu của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhà thơ cũng là nhà binh hào hoa phong nhả, thơ Trường thả vèo trong mây, ngút ngàn theo gió suốt bao năm trường.

Ðừng bảo rằng muà xuân đã chết hởi bạn bè, khi nâng ly bồ đào lên môi, để nhấp từng giọt nước mắt của nhà thơ trong ‘Mảnh phi bào‘, khóc bạn.

“..khoát mảnh phi bào anh nhớ lại,

lời thề sông núi mãi còn vương

sắc áo tuy hoen màu uy vũ

nhưng hồn vẫn nặng tựa trùng dương

.. ngày xưa anh đứng bên song cửa

nhìn áng mây trời ngó cánh bay

giờ đây mậy trắng anh xây mộng

lại biến vành tang buổi xum vầy..”
+ ANH VŨ

Anh Vũ, Thiện Tín, tên thật là Võ Ðình Dược, sinh năm 1955 tại Hòa Vinh, Hàm Thuận, Bình Thuận, học sinh PBC 68-75.

Ðịnh cư tại Mỹ năm 1980, Anh Vũ tốt nghiệp BS tại California State University, Fullerton ngành Electrical Engineering năm 1988, và đã theo học các lớp Sáng Tác Hòa Âm tại Santa Ana College năm 1995-1997. Anh hiện sống bằng nghệ tự do với gia đình một vợ ba con tại Nam Cali.

Văn thơ và nhạc phẩm của Anh Vũ hướng về Tình Yêu Quê Hương, Thân Phận Con Người và ba đức tính của người Phật tử Bi Trí Dũng, đã được đăng trên báo Người Việt, tập san Văn Hữu, đặc san Bình Thuận, đặc san Cư Sĩ Hoa Kỳ. Anh Vũ đã xuất bản tập thơ ca nhạc CD “Quê Hương và Nỗi Nhớ” rất có giá trị.

+ NGUYỄN HƯNG : THIÊN TÀI HÓA HỌC

Nguyễn Hưng sinh năm 1952 tại Phan Thiết, học sinh Phan Bội Châu năm 1962-1969. Trong những năm tại đại học Khoa Học 1969-1973 Nguyễn Hưng đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về ngành Hóa học, đã tốt nghiệp thủ khoa, ưu hạng và được tuyển vào Ban Giảng Huấn của Ban Hóa Vô Cơ và Ứng Dụng, Ðại Học Khoa Học Sài Gòn năm 1973.

Năm 1974 được học bổng bậc tiến sĩ của trường đại học Wisconsin Hoa Kỳ về ngành Hóa Vô Cơ Organic Chemistry.

Ðịnh cư ở Mỹ, với khả năng hiếm có về hóa học, Nguyễn Hưng được làm Senior Research Chemist ngay cho cho hảng Varian từ năm 1988, chuyên nghiên cứu về ngành sắc ký Chromatography. Từ đó Nguyễn Hưng đã có trên 50 công trình nghiên cứu đã được công bố trong các hội nghị quốc tế:

- The Pittsburgh Conferences on Analytical Chemistry and Applied Spectroscopy (Chicago, New Orleans, Orlando, Atlanta)

- International Symposium of High Performance Liquid Chromatography and Related Techniques (San Francisco, St. Louis, Birmingham U.K)

- The Eastern Analytical Symposium (Somerset, N.J)

Riêng trong năm 2002 đã có 9 công trình nghiên cứu được công bố trong cùng một hội nghị (The Pittsburgh Conferences on Analytical Chemistry and Applied Spectroscopy, March 17-22, 2002, New Orleans, LA).

Các công trình nghiên cứu này đã được công bố trên các tạp chí khoa học của Mỹ và thế giới như:

- Journal of Analytical Toxicology

- Journal of Chromatography Biomedical Applications

- The European Food and Drinks Review

- American Clinical Laboratory

- American Environmental Laboratory

- Sample Preparation
+ NGUY?N VAN T?O : MỘT TẤM LÒNG

Sinh năm 1951 tại Ðức Nghiã Phan Thiết, tốt nghiệp Phan bội Châu Phan Thiết 1969.

Sĩ Quan QLVNCH, Tốt nghiệp Cữ Nhân Khoa Học Ứng Dụng Trường VBQG Việt Nam, Tốt nghiệp Kỹ sư Cơ Khí Penn State University Pensylvania USA.

Kỹ sư cao cấp về thiết kế Nguyên tử năng tại San Onoffe Nuclear Power Station, California. Kỷ sư & Khoa học gia cao cấp về Không gian và Vệ tinh tại Boeing Satellite System, Los Angles California. Founder Ampact.net - Vietreal.net (America Pacific Techno Network Internet). Trưởng Ban truyền thông (Internet) tổng hội cựu SVSQ/TVBQG Việt Nam.

2 - VINH DANH NHỮNG ANH HÙNG BÌNH THUẬN VỊ QUỐC VONG THÂN :

Thiếu Úy TRẦN VĂN THÂN, học sinh Bạch Vân Bồ Ðề, sinh năm 1942 tại Phú Trinh Phan Thiết, thuộc Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt, có đệ nhị đẳng Toikondo. Vào cuối năm 1974, đầu năm 1975 tại An Khê tỉnh Bình Ðịnh, ông là Trưởng Toán 754 thuộc Ðoàn Công Tác 75 nhày lọt vào BTL Sư đòn 3 Sao Vàng CS, Thân không bị giặc bắt nhưng lúc bơi qua sông bị chết đuối mất xác. Cũng trong binh chủng này, ở Phan Thiết còn có Trung Úy Khuê, Thiếu Uý Hoàng, Chuẩn Uý Sanh, Ðại Uý Mau là SQ.Ðà Lạt , phục vụ trong Chiến Ðoàn 3, Sở Liên Lạc. Riêng Chuẩn Uý Nguyễn Văn Mỹ, Bình Hưng thì chết tại Ðà Nẳng năm 1974 vì nổ lưụ đạn.

Trung Uý Lê Văn Khen, PBC 55-61, sinh Phú Trinh Phan Thiết, khóa 23 SQ.Ðà Lạt. Là Ðại Ðội Trưởng DD1/TD1/TrD43/SD18BB, tử trận tại Ðịnh Quán, Long Khánh tháng 4-1969. Trung Uý Nguyễn Văn Trung, PBC 54-58, khóa 20 SQ.Ðà Lạt, DDT/TD2/43/SD18BB chết Long Khánh 1966. Ðặng Hữu Tâm, Sĩ Quan Trợ y của Trung Ðoàn 43/SD18BB, khóa 22 SQ.TB.Thủ Ðức, chết Ðịnh Quán vì bị phục kích.

Dũng Chinh, nhạc sĩ tên thật là Nguyễn Văn Chính, học sinh Bồ Ðề. Sĩ Quan DDT thuộc TD3/45/SD23BB chết tại Phan Rang vì bị VC phục kích.

Ðại Uý Lê Văn Trò, SQ khoá 19 DPQ, DDT.DD206 Trinh Sát tỉnh Bình Thuận, bị VC hạ sát vào tháng 5/1975.

Thiếu Tá Trịnh văn Bình, khóa 9 SQ.Trừ Bị Thủ Ðức, phục vụ tại SD25BB. Năm 1970, khi còn Ðại Uý về Phan Thiết làm Tiểu Ðoàn Trưởng TD274/ DPQ/BT. Ðã chiến đấu anh dũng tới ngày cuối cùng tại Phan Thiết đêm 18-4-1975 và sau đó tại Bà Rịa sáng 30-4-1975 trong số 3000 quân BT vào Nam. Sau năm 1975, đi tù cọng sản và chết tại biên giới Hoa Việt.

Các vị Tỉnh Trưởng Bình Thuận như Lưu Bá Châm và Ðại Tá Nguyễn Khắc Tuân, cũng như Trung Tá Vương Ðăng Phong, Tiểu Khu Phó TK. Bình Thuận đã chết trong tù Cọng Sản tại biên giới Hoa Việt. Ngoài ra còn có Ðại Uý Huỳnh Ngọc Ghênh, PBC 55-61, Trưởng phòng khai thác tù binh Bắc Việt tại Biên Hòa, bị giết chết trong trại tù miền Bắc .

Ðại Uý Vũ Mạnh Hùng, học sinh Tiến Ðức, khóa 13 Thủ Ðức, là DDT của Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, tử trận tại Cầu Bình Lợi, năm 1968. Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh đã viết ca khúc Rừng Lá Thấp để nhớ bạn hiền.

Ðại Uý Lê Văn Quế, PBC 55-61, khóa 19 SQ.Ðà Lạt, là DDT của TD44 Biệt Ðộng Quân, thuộc LD4BDQ lừng danh miền tây. Quế tử trận tháng 4-1965. Cùng khóa có Trung Úy Nguyễn Văn Thu, Sĩ Quan QTV của SD23BB, tử trận tại Ban Mê Thuột năm 1968. Ðại Uý Hoàng Xuân Liêu, SD23BB về phép PT bị pháo kích chết.

Xin một nén hương tưởng niệm đến bạn bè :

Thiếu Uý Phạm Nguyên An SD3BB, tử trận năm 1973. Trung Uý Nguyễn văn Biên, Trưởng ban 5 Chi khu Tuy Phong/BT chết tại trại Kà Tót năm 1975. Ðại Uý Trần Thanh Bang,PBC 55-61, SD1 BB chết tại Huế. Ðại Uý Nguyễn Văn Bảy, DDT/DPQ/BT, chết tại Cây Táo Trung Uý Ðoàn Hữu Bính, PBC 55-61, TK/BT chết tại Kà Tót. THiếu Uý Lê Văn Bé, PBC 62-69, SQ/KQ tử trận. Phó Quận Trưởng Tuy Phong, Lâm Quang Chân, PBC 62-69 chết trong tù VC. Thiếu Uý Phạm Văn Cung, PBC 62-69, DPQ/BT tử trận tại Thiện Khánh năm 1972. Chuẩn uý Ngô văn Chín, PBC 62-69, tử trận

Thiếu Uý Huỳnh Văn Ðược, SD7BB, tử trận Gò Công.Thiếu Uý Ðinh Hoàng Ðiểu, PBC 68-75, SQKQ, chết trong tù VC tại Huy Khiêm. Ðinh văn E., PBC 62-69, SQ/HQ mất tích năm 1975. Trung Uý Nguyễn Bá Hoa, PBC 63-70, SQ/Quân Cụ, tử trận tại Xuân Lộc năm 1973. Trần Hùng, PBC 55-62, SQ/SD22BB, tử trận Kon Tum. Nguyễn Văn Hồng, tử trận tại Ban Mê Thuột. Hải Quân Trung Úy Trần Thiện Khải, PBC 63-70, tử trận ta.i Hạ Lào sau năm 1975.

Nguyễn Thành Lai, giáo viên, chết vì công vụ tại Thiện Nghiệp năm 1975. Trung Uý Dương Xuân Lang, PBC 62-69, SD18BB, tử trận Bình Long năm 1972. Trung Uý Nguyễn Văn Ly, PBC 60-67, tử trận tại Long An. Chuẩn Uý Ðổ Kim Lâm, PBC 62-69, SD18BB, tử trận Bình Long. Cao Minh, Học Sinh Bồ Ðề, BDQ, tử trận. Nguyễn văn Nghĩa, Biệt kích, tử trận. Nguyễn Ðại ở Ðức Nghĩa, học sinh Bồ Ðề, tử trận.Nguyễn Nghĩa, Bồ Ðề, tử trận. Trần văn Soái, Ðức Thắng, BDQ, tử trận.

Trung Uý Nguyễn Văn Nhị PCK trưởng Phước Thiện Xuân, Hải Long, chết trong tù Kà Tót. Trung Uý Lưu Văn Nở, HQ, chết trong tù Kà Tót. Thiếu Uý Nguyễn Bảo Nghĩa, PBC 62-69, SD22BB, tử trận KonTum năm 1972. Thiếu Uý Bùi Ổi, SD2BB, tử trận Quảng Ngãi, Biên Tập viên Cảnh Sát Võ Phương, PBC 55-61, chết trong tù V1CT năm 1977. Thiếu Uý Võ Minh Phước, PBC 62-69, chết trong tù VC. Ðại Uý Trợ Y Nguyễn Tư tại QYV.Ðoàn Manh Hoạch, PBC 55-61, chết KàTót. Thiếu Uý Nguyễn văn Phú, PBC 63-70, SQ/KQ, chết Kon Tum. Thiếu Uý Nguyễn Văn Sơn, PBC 69, BDQ tử trận Thiếu Uý Phạm Văn Sơn, PBC 69, tử trận. Trung Uý Trương Minh Sanh, SQ/KQ, PBC 69, tử trận. Thiếu Uý Phùng Quốc Thành,PBC 69, SQBB, tử trận Quảng Tri năm 1972. Thiếu Tá Nguyễn Văn Thuận, HQ, mất tích năm 1975.

Trung Uý Pháo Binh Nguyễn Văn Thành, PBC 65, chết sau khi mãn tù VC. Thiếu Uý Trần Văn Bào, PBC 69, tử trận. Thiếu Uý Võ Hữu Tòng, PBC 67, SD 7 BB, tử trận tại Mỹ Tho. Ðại Uý Trần Ngọc Châu, PBC 55-61, chết sau khi mãn tù VC. Ðại Uý Nguyễn Văn Châu, PBC 55-61, chết trại tù Kà Tót. Ðinh văn Ngọc, PBC 55-62 tử trận. Nguyễn Văn Còn, PBC 55-62, tử trận Lê Hiệp, PBC 55-62, tử trận. Trung Uý Lương Cảnh Hùng, PBC 63, SQ.Ðà Lạt, SD23BB, tử trận tại Ban Mê Thuột.

.. và nhiều chiến sĩ vô danh khác trong mọi binh chủng, công chức, dân thường đã gục ngã vì Tổ Quốc VN và quê hương Bình Thuận.

Thành kính tri ân.

Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 8-2008

Mường Giang
Copyright © huongvebinhthuan.org
Website powered by Subdreamer CMS