|
System Error: The plugin could not be found. Bài Mới Nhất Phân Ưu Cùng Gia Đình Cụ Bà Nguyễn Đình Khiết Phân Ưu Cùng Gia Đình Cụ Ông Nguyễn Văn Hoành Hậu Túc Cầu Thế Giới 2010 Kỷ Niệm Một Chuyến Đi Hoài Cảm Đại Hội Ân Tình lần Bốn Hai tổng thống đi "ăn bụi" Viết về một người bạn trẻ đã ra đi Trong Lao Tù Cộng Sản Siêu Vi Khuẩn Và Nạn Đói Nguyễn Thị Hoàng Bắc Mỹ Nhật phản ứng trước sư căng thẳng .. Ha Uy Di Thiên Ðường Hạ Giới Bài Thơ Lạ Trung Ðoàn Bình Thuận tại Mặt Trận Phước Tuy.. Đi thăm một vi tướng anh hùng VNCH Tàu Trung Cộng và Mã Lai Á đụng độ tại Trường Sa Chương Trình Ðại Hội Ân Tình IV Honolulu Danh sách Ðồng Hương Bình Thuận dự ÐH Honolulu Thông cáo Thương Hải 1972 Mỹ-Tàu Tháng Tư nào ta về Phan Thiết ? Tin về việc Bốc Mộ QLVNCH chet tai Bac Việt Ba mươi lăm năm nhìn lại những ngày trơ xương.. Chính Phủ VNCH Chưa Hề Xử Dụng Đến Trẻ Em để Đánh Giặc Thông cáo báo chí v/v BBC&DNB Ngày 19-4-1975 Phan Thiết mất 1975 Hoa Kỳ Sa Lầy Hay Bỏ Chạy Khỏi VN Phân Ưu Thân Mẫu Anh Chị Phan Bái Ba Mươi Lăm Trước Ngày 30-4-1975 TT Dương Văn Minh.. Ðạo luật bảo vệ sức khỏe mới TÌNH NGƯỜI TRONG CƠN LY LOẠN Có Nên Dùng Ngôn Ngữ của VC? Vượt Biển Một Mình Trường Hận Thư Mời Tham Dự Ðại Hội Ân Tình IV Honolulu Đại Hội Ân Tình IV Tại Honolulu - Hạ Uy Di Thơ gởi chị Những Tình Khúc Chiến Trường Một Thời Tuổi Lính Lớp học Viết Văn hàm thụ miễn phí Ðầu Tháng 4/1975, Bỏ Ngỏ Thị Xã Phan Thiết Giáo Sư Phạm Quang Giai Vinh danh những Anh Hùng Bình Thuận Tháng 4 Quốc Hận, Nhớ Về Ðại Ðội 118 ÐPQ Bình Thuận Phan Uu Anh Lưu Trong Bút Tin Thu Tuong Nguyen Tan Dung Tu Chuc Thành quả Bình Ðinh Phát Triên Bình Thuận Của Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa Chuyện dài về ông rễ của Nguyễn Tấn Dũng Trận Phục Kích Chiến Xa CSBV Tai Lương Sơn Ðêm16-4-1975 Ðoc ' Bình Thuận Quê Hương Một Ðời Yêu Dấu ' của MG Biển Ðông nổi sóng, Mỹ làm gi ? Tàu đỏ đụng độ với Mỹ trên Biển Ðông |
Bài Viết Tháng 4 Quốc Hận, Nhớ Về Ðại Ðội 118 ÐPQ Bình Thuận
THÁNG 4 QUỐC HẬN LẠI ÐẾN (4/1975 - 4/2009) THƯƠNG NHỚ VỀ ÐẠI ÐỘI 118 ÐỊA PHƯƠNG QUÂN BÌNH THUẬN ---------------------------------------------------------------------------- CAO HOÀI SƠN VÀ MƯỜNG GIANG (Trích trong Ký Sự ‘ BÌNH THUẬN QUÊ HƯƠNG, MỘT ÐỜI YÊU DẤU , tác phẩm thứ 6 của MG phát hành tháng 6-2009) (Bài được lưu trữ trong website www.huongvebinhthaun.org va thuvientoancau)
Trên con đường thiên lý, ra khỏi Phan Thiết chừng 20 cây số về hướng bắc sẽ gặp núi Tà Dôn sát lộ và từ đó nhìn về hường biển, chỉ thấy mênh mông trời xanh cát trắng, tuyệt nhiên không có một chút gió dù rằng đại dương nằm cách không xa là mấy. Ðối với người Bình Thuận thì không ai xa lạ gì với cát, vì cát có mặt ở rất nhiều nơi trên quê hường miển biển mặn từ Cà Ná vào tới Phù My nhưng chính tại vùng này, cái mà khởi đầu từ năm 1945 trong chín năm toàn dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp, cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 trong cuộc chiến của người miền Nam, ngăn chận làn sóng đỏ cọng sản quốc tế, do Bắc Việt gây ra, thì không ai xa lạ gì với cái được gọi là mật khu Lê Hồng Phong.
Ở đây, cát đã làm khổ con người vì cảnh khô hạn tận tuyệt đến nổi các nhà khoa học đã phải gọi đó là một trạng thái kỳ lạ nhất của vật chất, mang tham vọng kinh khủng là chinh phục con người, như một khúc biển tấu hoà âm bất tận, giống như cái hạnh phúc vô thường hay niềm đau không sao nói được của những người dân bị kẹt lại trong thiên đường này từ 1955-1975. Ðây là một vùng đất chết, đã được VC tuyên truyền là khu giải phóng, trong đó ngoài cái đói rách kinh thiên động địa do thiên nhiên và chiến tranh sắp đặt, còn có nổi vùi dập đọa đày trọn vẹn bởi những chủ trương chính sách triệt để sắt máu của VC trong việc không để bất cứ ai chạy lọt ra vùng tề.
Trước năm 1975 ngưới dưới phố ngoại trừ là lính, ít ai dám hay héo lánh tới cõi thiên đàng này, nơi đã được nhà thơ Nguyễn bắc Sơn, một người lính từng vào khu Lê viết : “..tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng còn ngại hành quân động Thái An cát lún bãi mìn rừng lưới nhện mùa khô thiếu nước lính hoang mang..” (Mật khu Lê hồng Phong-NBS).
Sau ngày ngưng bắn, người dân ở đây nghèo vẫn đói,vì đất đai cứ tiếp tục bị cát sa mạc hoá cho nên chỉ trồng được dưa và dừa, trong khi đó thì thiên hạ bốn phương nưòm nượp kéo về Hòn Hồng, Hòn Rớm để thụ hưởng tiện nghi vật chất tại những nơi chốn y như cảnh thiên đàng hạ giới, được nhà nước liên danh với Tây Nhật và Việt cờ yêu nước XHCN bỏ tiền xây dựng kiếm lời. Câu chuyện người dân có nước mà phải mua nước nghe sao thảm thiết quá chừng ,nhât là đối với những người từng bị bắt theo VC , khiến cho bao nhiêu ngàn người đã phải nằm xuống, làm cỏ lót đường cho thiên hạ vượt qua núi cát về phố lên cầm quyền trị nước. Nhưng dưới cái thiên đàng xã nghĩa trong 34 năm qua, với họ thì nên gọi đó là nổi bất hạnh hay may mắn ? khi những người khu Lê ngày nay tuy được sống nhưng đâu có được hồi sinh trong thế giới văn minh của loài người đang diễn ra từng phút giây tại Phan Thiết.
Theo tài liệu từ Ðại Nam Nhất Thống Chí của Sử quán Triều Nguyễn và Ðịa bạ tỉnh Bình Thuận được lập ra từ đời vua Minh Mạng, do quan Hộ bộ Ðào tri Phú làm đạt điền, thì mật khu Lê Hồng Phong của tỉnh Bình Thuận, khai sinh từ đầu năm 1945 cho tới cuối tháng 4-1975, nằm trọn trong Tổng Vĩnh An, huyện Hòa Ða, phủ Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận xưa, lúc đó có 35 làng gồm 30 thôn, 5 xã, chiếm một diện tích 2171 mẫu 652 sào. Nhưng đất thực canh không có là bao, vì phần lớn đất đai toàn động cát, núi đồi thấp, rừng thưa và nhiều khe lạch , có thể gọi là hoang phế, ngoại trừ một phần nhỏ đất ở rìa các xã Khánh Thiện, Thiện Nghiệp, Thiện Khánh trong vùng Vị Nê, nhờ có nước nhĩ nên còn có thể lập vườn trồng đa số là dừa, trầu cau và vài loại cây ăn trái. Thời VNCH (1955-1975), mật khu nằm trong hai xã Lương Sơn và Nhơn Thiện, thuộc quân Hoà Ða, các xã xôi đậu Long Phú, Hoà Vinh, Tùy Hòa ( Thiện Giáo) và Thiện Nghiệp (Hải Long).
Riêng VC thì chia khu Lê thành 7 xã giải phóng, dù rằng toàn vùng có dân số chưa tới ngàn người, xã không có làng mạc, thôn ổ và cuộc sống vì hầu hết dân chúng bị lùa theo các đơn vị địa phương , du kích, tiểu đoàn 480,482 và trung đoàn chính qui 812 Bắc Việt của khu 7 VC. Sau ngày ngưng bắn 1975, mật khu gộp lại thành hai xã : Hồng Phong và Hoà Thắng thuộc huyện Bắc Bình.
Ðây là một vùng đất coi như khô hạn nhất VN, nằm cao hơn mặt biển từ 150-200m nên không thể đào giếng được, dù có dùng khoang máy với các mũi khoang có độ dài từ 50-90m vẫn vô hiệu, cộng thêm là độ bốc hơi nước do sức nóng từ các động cát trùng điệp gây ra, cao hơn lượng nước mưa 1200 mm của khu vực này. Trừ xã Hoà Thắng sát biển lại may mắn có được nước ngọt từ hai bầu Ông và bầu Bà, còn lại thì toàn đồi cát và những mảng rừng trống mọc toàn các loại cây lá kim như ở các sa mạc tại Phi Châu, Mông Cổ, Ả Rập.. có điều các nơi đó trời còn cho dầu bán đồi lấy gạo và nước, còn ở đây chỉ có cát để trồng dừa, dưa và khoai mì nhưng rất cằn cổi, giống như con người.
Về thú cầm chỉ độc nhất có dông là sống được trong cát. Vì nước quý như vậy, nên người dân ở đây có câu chuyện tếu là sính lễ mà đàng gái đòi đàng trai, đó là nước. Hiện nay qua các kế hoạch kiếm nước như khoan giếng, tới Bầu Trắng gánh nước về uống coi như thất bai. Từ đầu năm 1999, cơ quan UNICEF của Liên Hiệp Quốc đã cho dân tại đây vay vốn để đúc lu chứa nước mưa bằng xi măng theo kiểu Thái Lan, giá 1 cái là 250.000 tiền Hồ, tương đương 15 US, có dung tích 2m3/1 cái và gia đình có 6 người thì được cấp 5 lu. Ở đây mùa mưa bắt đầu từ tháng 7-11, nước mưa nếu có chỉ dùng được trong hai tháng, còn thời gian nắng hạn vẫn phải mua nước từ các nơi khác chở tới, với giá 1 đôi 40 lít là 5000 tiền Hồ. Thôi thì có như vậy còn hơn không, và người dân ở đây cũng chỉ mong được như thế để bớt đi nổi nhọc nhằn phải đi xa trên 20 km gánh về một đôi nước hay quanh năm phải mua nước từ nơi khác chở tới, trong lúc túi tiền kiếm được rất khiêm tốn qua các thu hoạch nhỏ nhoi và cằn còm từ dừa, dưa cùng khoai mì mà thôi.
1-MẬT KHU LÊ HỒNG PHONG, THÀNH CÂY VÁCH CÁT CỦA VC :
Theo các hồ sơ mật của Liên Xô, Pháp,Trung Cộng vừa được giải mật, thì Lê hồng Phong tên thật là Lê Huy Doản cùng với các bí danh khác như Hải An, Chayan và Litvinov, sinh năm 1902 tại Hưng Thông, Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An. Ðầu tiên Phong dấn thân vào con đường cứu nước trong mặt trận VN Quang Phục Hội do cụ Phan bội Châu lãnh đạo. Chính lý do này, nên mới đây CS Hà Nội bảo Phong là bạn của Liệt Sĩ Phạm Hồng Thái, người đã ném bom Sa Ðiện tại Quảng Ðông năm 1924, để ám sát Toàn Quyền Pháp tại Ðông Dương là Merlin, khi Y đang buôn bán xương máu VN tại đây. Phong cũng được cụ Phan Bội Châu giới thiệu vào học trường Sĩ quan Hoàng Phố (Quảng Châu-Quảng Ðông) của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng nhưng sau đó phản bội bỏ theo Hồ gia nhập Tâm Tâm Tâm Xã, một tổ chức của đảng CSQT do Hồ tùng Mậu và Lê Hồng Sơn lập tại Quảng Châu năm 1923, trước khi Lý Thuỵ ( Hồ Chí Minh) và Lâm Ðức Thụ bán đứng cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp tại Thượng Hải để chia nhau tiền thưởng. Do trên Phong được Hồ cho sang Liên Xô học ở viện thợ thuyền phương đông duới bí danh Litvinov.
Theo các tài liệu của Hứa Hoành và Chánh Ðạo, thì Hồ đã nhường ‘ vợ đảng ‘ của mình là Nguyễn Thị Minh Khai, một nử đảng viên cọng sản quốc tế đầu tiên, cùng Hồ học tại đây, để Phong lấy làm vợ. Bà này là chị ruột của Nguyễn thị Quang Thái, vợ lớn của Võ nguyên Giáp, cũng là một đảng viên cọng sản bị Pháp bắt giam và đã chết thảm trong ngục năm 1942. Năm 1934, Lê hồng Phong nhận lệnh của Liên Xô, thành lập đảng CS Ðông Dương tại Thượng Hải. Tại Mạc tư Khoa vào năm 1935 trong kỳ Ðại Hội 7, Phong được bầu làm Uỷ viên dự khuyết trong ban chấp hành CSQT.
Tháng 1-1940 Phong về VN hoạt động, bị Pháp bắt tại Phan Thiết và chết ở Côn Ðảo năm 1942 còn vợ là Nguyễn thị Minh Khai cũng bị Pháp xử bắn tháng 8-1941 ở Hóc Môn, mà theo Hứa Hoành viết là do chính Hồ chí Minh đã chỉ điểm cho mật thám bắt, mục đích tiêu diệt hết nhóm cọng sản Nam Kỳ, để đảng bộ miền bắc nắm trọn quyển lảnh đạo.
Do trên VC Bình Thuận mới đặt tên chiến khu tại địa phương là Lê hồng Phong. Xưa nay vào khu có nhiều đường. Trên quốc lộ số 1, có thể theo lối từ Chợ Lầu và Sông Lũy hướng bắc hay men theo sườn núi Tà Dôn, nằm trong ranh giới giữa hai xã Long Phú ( Thiện Giáo) và Nhơn Thiện ( Hòa Ða), thường được gọi là Cây Táo, ngả ba nhà ga Long Thạnh và đường nối QL1 với liên tỉnh lộ 8 gặp nhau tại huyện lỵ Ma Lâm ( Thiện Giáo).
Ðây cũng là một trong những chiến trường đẳm máu trước năm 1970 từng xãy ra các trận đụng độ lớn từ cấp Ðại Ðội trở lên giữa VC và các lực lượng Mỹ và QLVNVCH như Trung Ðoàn 43 Biệt Lập, Trung Ðoàn 44/SÐ23BB, Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh, Các Tiểu Ðoàn 202,212,229,249,274 ÐPQ/Bình Thuận. Cũng tại đây, nhà văn quân đội nổi tiếng của miền Nam trước tháng 5-1975 là Y UYÊN, tên thật là Nguyễn văn Uy, sinh tại Bắc Việt, sĩ quan QLVNCH, đã tử trận ngày 8-1-1969 tại đồn Nora ( Long Phú). Lúc sinh thời, Y Uyên có nhiều tác phẩm giá trị đã xuất bản như Bảo khô (1966), Tượng đá sườn non (1966), Quê nhà (1967), Ngựa tía (1968) và Ðuốc sậy (1969).. Riêng về hướng biển, trên tỉnh lộ 28 Phan Thiết-Mũi Né, đến Xã tị nạn Thiện Nghiệp, rẽ theo đường vào Bàu Me, Bàu Tàn, Bàu Sen.. Xa hơn là Thạch Long tới Hòn Rơm, Hòn Hồng nằm trong xã Hoà Thắng, cửa khẩu giao thường và tiếp vận từ bên ngoài cho VC trong vùng.
Kể lại chuyện mật khu Lê trong thời chiến tranh 1955-1975, không thể không nói tới chiến công của Trại Lực lượng đặc biệt Phi Hổ, trong đó nhà thơ Nguyễn bắc Sơn cũng đã có thời gian theo đơn vị này nhiều lần hành quân tại đây với tư cách là một thông dịch viên của các cố vấn Hoa Kỳ. Qua tài liệu của Trung Tá LLDB Trịnh văn Viễn, hiện nay ở Texas Hoa Kỳ, từng là chỉ huy trưởng trại Phi Hổ thì trại này nằm trong xã Chợ Lầu cách thị trấn Sông Mao vài cây số, một nơi có mỹ danh là Chợ Lớn Mới, vang danh một thời trước năm 1975 :
‘ mai ta đụng trận ta còn sống, về ghé Sông Mao phá phách chơi chia sớt nổi sầu cùng gái điếm đốt tiền mua vội một ngày vui..” ( Mật khu LHP-NBS).
Trại Phi Hổ nguyên là hậu cứ cũ của Trung đoàn 42 bộ binh, đối mặt với mật khu Lê Hồng Phong VC. Tháng 2-1962, đại uý Trịnh văn Viễn, chỉ huy toán B3/LLDB đến công tác trong vùng, giữa lúc tình hình an ninh khu vực tồi tệ đến mức VC dám về các xã đông dân trong vùng hằng đêm để hát xướng, tuyên truyền và thu thuế, mặc dù tại đây có các đơn vị Bảo An-Dân vệ và Trung tâm huấn luyện Bảo An tại Sông Mao. Ðể ứng phó với tình hình, trại đã thành lập các đơn vị dân sự chiến đấu, ăn lương Mỹ, không có số quân do các thanh niên trong vùng, kể cả Phan Thiết tình nguyện lên tới 1 tiểu đoàn, hành quân dưới sự hướng dẫn của toán B/LLDB.
Sau này Tiểu đoàn Dân Sự Chiến đấu trại Phi Hổ được chính Bộ trưởng QP.Hoa Kỳ là Mc.Namara khi đến thăm Ấp chiến lược Lương Sơn, đã ban cho Danh Hiệu la Tiểu Ðoàn I Nhảy dù LLDB do Ðại uý Trịnh văn Viễn chỉ huy tổng quát. Cũng kể từ đó, trại Phi Hổ trở thành tử thần của mật khu Lê, thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân thám sát, nhảy dù ngay chính trong lòng đất địch, gây bất an và thương vong thường xuyên cho các đơn vị VC trong vùng. Ngoài ra Trại còn phối hợp với Tỉnh Trưởng Bình Thuận lúc đó là Trung Tá Nguyễn quốc Hoàng, tổ chức thành lập các Trung đội Dân Sự Chiến Ðấu tại các xã trong quận Phan Lý Chàm, Hoà Ða do Hoa Kỳ trả lương để họ tự bảo vệ các ấp chiến lược.
Ðặc biệt nhất là tại xã Lương Son, đông dân, trù phú nằm ngay trên QL1, đối mặt vơi khu Lê, trại Phi Hổ đã tổ chức được một LL/DSCD trong đó có 1 Trung đội Nử biệt kích LLDB (Ðối chọi với Trung Ðội Nữ Ðặc Công Hồng Thái thuộc C440A của VC). Chính lực lượng này đã góp công lớn trong việc tiêu diệt nguồn nước uống của mật khu, làm cho các đại đội địa phương VC phải rút đi nơi khác, chỉ lưu lại một trung đội hoạt động nghi binh mà thôi.
Trước ngày binh biến 1-11-1963, trại Phi Hổ và TK Bình Thuận đã tổ chức một cuộc hành quân vào mật khu Lê, vưà tiêu diệt VC cũng đồng thời giải thoát số đồng bào còn bi kềm kẹt trong vùng. Tháng 3-1964, các toán LLDB hoạt động tại trại Phi Hổ được lệnh chuyển giao nhiệm vụ lại cho Tiểu khu Bình Thuận, và mặt thật như ta biết là vùng này ngoại trừ xã chiến lược Lương Sơn với sự hiện diện của TD-DSCD còn có an ninh, tất cả vùng từ Cây Táo tới Sông Lữy, Chợ Lầu rồi Vĩnh Hảo-Cà Ná trên QL1 trước năm 1970, đều là đất của CS , mặc dù sau khi LLDB rút, đã có các Trung đoàn 43 BB/Biệt lập hành quân. Sau đó là các Trung đoàn 44,53 BB và Thiết đoàn 8 kỵ binh của SD23 BB, kể thêm lực lượng Nhảy dù Hoa kỳ. Tình hình an ninh thật sự có được tại khu Lê và toàn tỉnh , bắt đầu năm 1970 khi Ðại tá Ngô tấn Nghĩa, trưởng phòng 2/QD2 về nhậm chức, cho tới lúc kết thúc chiến tranh vào cuối tháng 4-1975.
2- ÐẠI ÐỘI 118 ÐPQ/BÌNH THUẬN :
Giống như Ðại Ðội 888 ÐPQ của Chi Khu Thiện Giáo do ThổThêm hồi còn Ðại Uý chỉ huy mà quân số hơn 90 % đều là người Chàm. Tại Bắc Bình Thuận cũng có Ðại Ðội 118 ÐPQ do Ðại Uý Nguyễn Văn Ngư làm Ðại Ðội Trưởng, quân số hầu hết là người Chàm được tuyển mộ từ các xã Hậu Quách, Tịnh Mỹ, Xóm Vàng nhưng nhiều nhất tai Hựu An. Cả hai đại đội đều rất thiện chiến, gan dạ nên VC rất khiếp sợ khi đụng độ.. Ðơn vị đặc biệt này mỗi khi xung trận, đều sử dụng tiếng Chàm trên các tầng số liên lạc và VC khi nghe thấy là tháo chạy.
Vào trung tuần tháng 5-1970, Ðại Ðôi 118 và 948 của Ðại Uý Ðổ Phương Gia tăng phái 3 tháng cho Chi Khu Hòa Ða do Ðại Uý Dụng Văn Ðối làm Chi Khu Trưởng qua chiến dịch Ðồng Tâm. ÐÐ 948 hoạt động từ Tịnh Mỹ tới cầu Quẹo, giáp với ranh giới động Thái An. Còn Ðại Ðội 118 đãm trách vùng hành quân trãi dài từ Ðồi Xích Thố (Xóm Vàng) đến Tịnh Mỹ chạy dọc theo triền động cát mật khu Lê Hông Phong. Trong chiến dịch này, ÐÐ118 đụng trân nhiều nhất, liên tiếp ở Hiệp Thành (Xóm Lụa) tiêu diệt trọn Trung đội nữ Hồng Thái VC. Tóm lại chỉ trong 3 tháng DD118 coi như xóa sổ C440 của VC qua các trận đánh tại Hiệp Phước và Xuân Quang (Xóm Ổi) thuộc xã Chợ Lầu.
Ðai Ðội 118 /ÐPQ là đơn vị cơ hữu của Liên Ðội 2/8 ÐPQ do Ðại Uý Thụy là Liên Ðội Trưởng đồn trú tại Phan Rí Cửa. Sau đó Liên đội đổi thành Tiểu Ðoàn 229 ÐPQ do Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tiến làm Tiểu Ðoàn Trưởng. Trong đợt này, Ðại Ðội 119/ÐPQ cở hữu của Chi khu Hòa Ða được hoán chuyển danh hiệu với DD118 DPQ khi trở thánh DD2/229DPQ. Còn DD118/DPQ của Trung Uý Ngư thay thế DD119/DPQ cơ hữu của Chi Khu Hòa Ða nhưng vẫn đãm trách an ninh quận Phan Lý Chàm và xã Chợ Lầu. Riêng Ðại Ðội 445/ÐPQ cơ hữu của Chi Khu Phan Lý Chàm do Trung Uý Lê Văn Thê làm ÐÐT cũng hoạt động tại Xã Chợ Lầu nhưng chủ yếu tại vùng Tân Bình, Hiệp Hòa.
Huỳnh Hữu Võ vì trốn quân dịch nên vào Nghĩa Quân xã Phan Rí Cửa, chuyên làm thơ phản chiến, mĩa mai cuộc chiến đấu của quân dân Miền Nam chống lại CS Bắc Việt, đã làm bài thơ ‘ Dưới Chân Ðồi Xích Thố ‘ trước tháng 4-1975 có nhiều đoạn bôi bác tục tiũ, nhằm làm giảm giá trị cao quý của người lính VNCH. Nhưng thơ vẫn được chương trình Dạ Lan chọn ngâm trong Ðài Phát Thanh Quân Ðội trước tháng 4-1975. Sau đó thơ của Huỳnh Hữu Võ lại được nhóm Thư Ấn Quán tại Hoa Kỳ (do ông Phạm Văn Nhàn ở TX chủ trương) xuất bản năm 2006, trích đăng lại tại ‘ Thơ Miền Nam Trong thời Chiến ‘.Ðương sự hiện còn sống tại Ngã ba Phan Rí Cửa, hợp tácvới VC Bình Thuận từ đó đến nay.
Dưới chân Ðồi Xích Thố có con sông, Con sông có cây cầu bắt qua Bên này là vườn táo, là nghĩa địa, là ruộng hoang Là lô cốt, là hầm chông, là bãi mìn Buổi sáng anh ở nơi đây Ðu đưa lời tình bên khóm táo Với bầy te te với tiếng gió sang mùa Anh phải ngủ thật nhiều vào ban ngày Ðể đêm từng đêm ngồi ôm súng gác Anh phải cười nơi đây thật to Ðể khỏi nghe tiếng súng .. Bạn bè anh đứa còn đứa mất Ðứa đào ngũ đứa vào bệnh viện Ðứa cụt tay đứa què giò Nhũng thằng còn lại ở đây Tháng những qua ngày vổ súng ca Anh ca bài tình ca quê huơng Quê hương của một dòng sông Anh ở đây dưới chân đồi Xích Thố.. (Những đoạn thơ tục tiũ đã cắt bỏ)
Phải nói tai mắt và cơ sở của địch rất tinh vi , chúng phát hiện tất cả hoạt động của bên ta nên khó mà phục kích được VC. Ai đã từng sống ở đây trước 1954, đều nghe tiếng bộ đội Việt Minh của ông Hằng, bà Lành một vú .. từng hùng cứ trong khu Lê thời chín năm toàn dân chống Pháp. Ðịa thế chiến lược của xã Chợ Lầu và Chi Khu Phan Lý Chàm rất bất lợi vì nằm trong hai thế tiến công của cộng sản tại khu Lê và mật khu Bắc Sơn.
Sau năm 1954 tập kết ra Bắc, Nguyễn Lành chỉ huy khu Lê được phong hàm thiếu tướng trong bộ đội CS Bắc Việt. Nhờ vậy, Lành đã nhìn rõ bộ mặt thật của cáo Hồ và đảng VC qua huyền thoại ‘ đánh Tây cứu nước, yêu giống thương nòi ‘ nhưng thực chất chỉ chạy theo Nga Tàu để làm tay sai bán nước bán dân cho đế quốc đỏ. Từ đó Lành đã tỏ thái độ bất mãn bất phục tùng đảng nên bị Hồ lột chức và tống giam vào tù . Lành vượt ngục và lội qua sông Bến Hải về Nam tìm tự do nhưng cuối cùng ông cũng giống như Vũ Anh Khanh bị giặc bắn chết giữa dòng sông, thi thể bị nước cuốn trôi biệt tích. Ðó là kết quả thảm thê của hằng triệu ngưởi Vietầ yêu nước nhưng nhẹ da lầm đường ỳ tin vào lời dụ dổ tuyên truyền của cộng sản.
Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa (1955-10/1963) chủ trương quốc sách Ấp Chiến Lược nên chính quyền Bình Thuận đã tập trung các bộ tộc thiểu sô K’Ho, Raglai sống rãi rác trong các buôn làng tại Cà Lon, Cà Tiếp, Cà Giây.. về Sông Mao , chặt đứt đường giây tiếp tế của VC tại Bắc Bình, khiến chúng lâm vào tình trạng đói rách thê thảm.
Ngay từ thời Pháp thuộc vùng Bắc Bình Thuận đã chiếm một vị trí quan trọng về quân sự, chính trị lẫn kinh tế trong tỉnh vì là một tiền đồn ngăn chặn sự giao tiếp liên lạc gữa các căn cứ cộng sản tại liên khu V,VI và VII với biển Ðông. Bởi thế về phía VC chúng đã cài tại đây nhiều căn cứ lõm như các mật khu La Gàn, Bá Ghe, Lê Nghi, Ca Lon, Lê Hồng Phong.. Pháp trước đây (1949) và VNCH cũng đã lập ra một vòng đai phòng thủ tại các vị trí chiến lược trọng yếu tại Ga Sông Lòng Sông (Tuy Phong), Duồng (Thượng Văn-Hòa Ða) , Cầu Sông Cạn (Hòa Ða), cầu Xóm Lụa (Chợ Lầu), ga Sông Mao, ga sông Lũy, Lương Sơn.. Ðây là một chiến trường gian khổ, ác liệt và dễ bị chia cắt vì là mũi giặc trong thế cài răng lược..
Trước tháng 4-1954 Bắc Bình Thuận gồm có 3 quận Hòa Ða, Phan Lý Chàm và Hải Ninh. Tháng 10-1954 sau khi hiệp định Geneve được ký kết, Bình Thuận tiếp nhận nhiều đồng bào các tỉnh miền Bắc, trong số này có người Nùng sinh sống tại Hải Ninh, Quảng Yên, Hải Phòng và Sư đoàn 5 bộ binh của Ðại tá Woàng A Sáng được an cư và đồn trú tại Sông Mao. Vì vậy chánh quyền mới lập thêm quận Hải Ninh. Còn VC thì từ tháng 4-1951 đã lập huyện Bắc Bình bao gồm Hòa Ða, Phan Lý Chàm và Tuy Phong. Sau đó lại tách Phan Lý Chàm làm thành một đơn vị hành chánh riêng, còn Hải Ninh không lập huyện nhưng lại lập ‘ ban cán sự đảng ‘ mang tên Cựu Giang. Rồi lại chia Bắc Bình thành 4 miền và lập 4 ban cán sự đảng trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của VC địa phương.
Sau khi bị thảm bại qua ba lần tấn công quân lực Ðồng Minh và VNCH trong dịp Tết Mậu Thân 1968, VC quay về lối đánh ‘ trộm ‘ gọi nôm na là đặc công, chốt, phục kích, pháo kích.. bộ đội còn lại cũng bị xé lẽ như C440 thành C440A và 440B(Hòa Ða gọi tắt là K1) và C470 (Phan Lý Chàm). Ngoài ra còn có các tiểu đoàn chính qui thuộc quân khu VI tăng cường 840, 186, 270 và C130 Pháo.
Xã Chợ Lầu cũng có một con đường giao liên giữa mật khu Bắc Sơn và khu Lê băng qua quốc lộ 1 ở đoạn Quán Mía và Xóm Vàng. Chính tại địa điểm này Ðại Ðội 118 ÐPQ thường mở các cuộc phục kích VC trên con đường giao liên qua lại, quân số từ trung đội lên tới cả trung đoàn. Ðể qua mặt bọn cơ sở địa phương, mỗi lần có cuộc hành quân Ðại Uý Ngư , Ðại Ðội Trưởng thường sử dụng chiến thuật nghi binh, dương đông kích tây.. làm cho VC không biết dâu mà mò. Trong một cuộc hành quân đột kích, Ðại Uý Ngư cố tình phô trương thực lực để địch thấy là đơn vị này chỉ lẩn quẩn iại Ðồi Xích Thố ngang với Xóm Vàng. Tại đây có một con mương cái chảy ngang qua, lính cứ bắt cá bắn chim ăn nhậu nhởn nhơ vui vẽ suốt 4 ngày.
Ðến ngày thứ 5, đơn vị rút về đóng dọc theo bên này bờ sông Lũy thuộc địa phận làng Khánh Tài cũ, làm như chuẩn bị qua sông trở về chi khu. Rồi khi trời vừa bắt đầu tối, Ðại Ðội đã âm thầm tiến về Xóm Lúa Hiệp Thành : Bộ Chỉ Huy phục trong khuông viên mã ông Bái Gia được xây bằng đá ong rất vững chắc không khác gì một pháo đài rất kiên cố. Các Trung đội nằm phục kích dưới một con mương cạn sát ngôi mã trên. Quân số tham chiến của đơn vị trên 80 người. Lúc này thời gian đã vào tháng 5 (1970) nên các ruộng lúa đã gặt xong, chỉ còn trơ lại góc ra và đấÔt thịt nên địa thế trống trãi dễ quan sát tứ phía dù trong đêm tối.
Việt Cộng chủ quan là đã nắm vững tình hình hoạt động của quân ta qua báo cáo của cơ sở từ mấy ngày qua tại Ðồi Xích Thố, nên chúng chia C440 thành 2 cánh quân : Trung đội Ðặc công Nữ mang tên là Hồng Thái đột nhập vào Xóm Lụa, Cánh 2 xâm nhập Ấp Xuân Hội (Xóm Tầm). Nhưng chúng không ngờ đã lọt vào ổ phục kích của ÐÐ118 ÐPQ/BT.
Ðêm đó trời tối đen như mực, mãi tới 10 giờ khuya trăng non mới bắt đầu ló dạng nhưng khắp nơi vẫn mù mờ sau màn mây xám xịt che phủ.. tuy vậy cũng đủ ánh sáng để cho ta quan sát địch trong vòng khoảng cách chừng 50m. Quay mặt nhìn vào trong xóm thấy có hiện tượng lạ xuất hiện. Ðó là các nhà ở phía sau đối diện về hướng động Thái An đều treo một ngọn đèn dầu chai, khác hẳn với ngày thường. Ðây là tín hiệu của cơ sở kêu gọi VC vào xóm vì tưởng quân ta đã rút về quận.
Và không lâu đã có nhiều tiếng động về phía đầu con mương cạn dẫn vào xóm. Lập tức một quả chiếu sáng 60 ly của trung đội nặng rời khỏi nòng thay đặc lệnh khai hỏa với đủ các loại súng từ M16, M72 cho tới Ðại liên M60 đều nhắm vào những con mồi trước mặt. Qua ánh sáng hỏa châu, xác người thay nhau ngã gục nàm ngổn ngang. Ðồng lúc Chi khu Phan Lý Chàm cũng cho pháo binh bắn yểm trợ tới tắp. Cánh hai của C440 tuy may mắn đi sau với khoảng cách hơi xa nên chỉ bị thiệt hại nhẹ, tại trận địa nhưng trên đường tháo chạy về hướng Xóm Tằm (Xuân Hội) cũng bọ nhiều thương vong vì pháo tập. Kết quả toàn bộ Trung đội Ðặc công Nữ Hồng Thái của VC đã bị xóa tên trong trận phục kích này.
Về phía ÐÐ118, một quả B40 pháo trúng vào Trung Ðội của Chuẩn Uý Sơn làm bị thương vài người nhưng không ai thiệt mạng. Sau đó quân ta rút về Cầu Xóm Lụa (Chợ Lầu) nằm chờ lệnh, đồng thời xin xe chở thương binh về Chi Khu Phan Lý Chàm chờ trực thăng tải thương về QYV Ðoàn Mạnh Hoạch tại Phan Thiết.
VC vô cùng căm tức nên trong đêm đó, số còn lại của C440 từ ẤpXuân Hội kéo ra QL1 nằm phục bên đường chờ cơ hội trả thù. Không bao lâu Chi Khu Phan Lý Chàm cho một xe Dodge chở đạn tiếp tế đồng thời tải thương binh. VC nằm phục chờ chiếc xe trở về để thanh toán rữa hận nhưng Trung Uý Ngư đã tiên đoán nên cho một Trung đội mở đường trước để xe về. Ðịch thấy vậy nên tấn công từ xa bằng cả B40 lẫn AK47 nhưng không gây tổn thương cho tài xế và tón quân hộ tống. Trung đội ta phản công rượt địch tháo chạy.
Sáng hôm sau Ðại Ðôi tiến hành lục soát tại đia điểm phục kích đêm qua. Có 14 xác giặc bỏ lại với nhiều vũ khí các loại, bắt sống 1 du kích địa phương bị thương trốn dưới mương với khẩu B40. Một buổi lễ khao quân được tổ chức tại sân vận động Chợ Lầu với sự tham dự của hơn 500 người gồm các vị thân hào nhân sĩ và đồng bào hai xã Chợ Lầu và Hựu An với sự hiện diện của Ðại Tá Tỉnh/Tiểu Khu Trưởng Bình Thuận Ngô Tấn Nghĩa. Ông đã tuyên dương Ðại Ðội 118 ÐPQ và gắn 10 Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Ðồng cho các chiến sĩ hữu công trong đó có Chuẩn Uý Cao Hoài Sơn. Riêng Trung Uý Ngư, Ðại Ðội Trưởng được một Trung Tướng Hoa Kỳ gắn Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc tại sân cờ Chi Khu Phan Lý Chàm.
Bao năm qua VC gần như quản lý toàn bộ khu vực này, dân chúng địa phương vì sinh kế và sinh mạng nên bó buộc phải đóng thuế nuôi sống chúng. Tháng 7-1970, Tiểu khu Bình Thuận mở cuộc hành quân hổn hợp càn quét khu Lê. Tham dự cuộc hành quân là đoàn chiến xa Hoa Kỳ hơn 50 chiếc gồm M41 và 48 có Ðại Ðội 118 ÐPQ tùng thiết. Cuộc hành quân này do một Thiếu tướng Mỹ chỉ huy có Cố Vấn Trưởng của Chi Khu Phan Lý Chàm tham dự. Quân phát xuất từ QL1 thuộc xã Tinh Mỹ cách cầu Chợ Lầu chừng 2 km về hướng Nam
Trên đường vào mật khu, VC đặt rất nhiều mìn chống chiến xa nhưng vì kỹ thuật ngụy trang quá sơ đẳng nên đã bị ta phát hiện dễ dàng. Ðoàn xe chia thành 5 cánh quân, cùng hướng về mục tiêu chính là Hòn Rơm sát biển, đã giẳm nát toàn bộ chiến khu này. Không biết lúc đó VC trốn nơi nào, nên ngay cả tổng hành dinh của giặc cũng chỉ thấy hầm hố kiên cố nhưng không tìm được một bóng người. Ðoàn xe tăng như đi vào cõi âm, cứ tiếp tục ngang dọc cầy xập nát tất cả hầm hố địa đạo trong căn cứ và đóng quân đêm tại Hòn Rơm. Sáng hôm sau lại tiếp tục càn quét xã Nhơn Thiện nhưng ở đâu cũng chỉ là chổ không nguời. Huyền thoại khu Lê anh hùng coi như xóa tên một cách nhục nhã từ đó vì chẳng có một sự kháng cự nào cho tới khi kết thúc cuộc hành quân.
Tháng 8/1970 lợi dụng đêm tối, một tiểu đoàn chính qui VC được tăng cường thêm C440 địa phương, đột nhập vào Thôn Hiệp Phước trước mặt Chi Khu Phan Lý Chàm nằm trên QL1, với ý đồ phục kích tiêu diệt Trung Ðội 1 thuộc ÐÐ118/ÐPQ đang có nhiệm vụ bảo vệ thôn này. Ðại Uý Ðặng Chánh Anh, Chi Khu Trưởng PLC đã điều động các cánh quân còn lại của ÐÐ118 tới chiến trường để giải nguy cho Trung Ðội 1, đồng thời đánh đuổi VC ra khỏi Ấp. Quân đội Hoa Kỳ đồn trú tại Sông Mao, cũng tăng cường cho chi khu một Chi Ðội Thiế Giáp M41-48 để bảo vệ quận đường.
Lúc đó Trung Uý Ngư bị bệnh nên Chuẩn Uý Cao Hoài Sơn, Trung Ðội Trưởng TÐ Chỉ Huy được chỉ định Quyền ÐÐT nên đã xin Chi Khu tiếp tế cho Ðại Ðội thêm 200 quả M79, với mục đích dùng số đạn này tấn công VC, để xe tăng Mỹ sẽ không tham chiến, hầu tránh sự đổ nát và chết chóc cho đồng bào trong vùng chiến nạn. Sau một giờ thận trọng di chuyển từ nơi đóng quân, cuối cùng vào lúc 10 giờ đêm, quân ta cũng tới được vị trí của Trung Ðội bị phục kích.
Làng xóm lúc đó vắng ngắt kể cả tiếng chó sủa, còn bầu trời thì tối như mực. Dù chưa thấy địch xuất hiện nhưng DD118 đã khai pháo bằng 100 quả M79 từ 9 khẩu đồng loạt nhả đạn. nhắm vào hướng địch trước mặt. Sau đó mở cuộc xung phong vào vị trí của VC đang rối loạn. Giặc thật bất ngờ trước trận mưa M79 và xung phong của DD118/DPQ nên trở tay không kịp.
Quân ta ào ạt tiến qua đường QL1 và chiếm được tuyến phòng ngự. VC đã chống trả mảnh liệt để lôi kéo đồng bọn bị thương vong rồi chém vè về hướng Bến Thanh Tu. Pháo binh cũng giập tơi bời trên đường tẩu thoát của VC dọc theo bờ sông, để lại nhiều vũng máu lớn tại hiện trường. Chiến cuộc kết thúc lúc 12 giờ đêm. Nhờ chiến xa không can thiệp nenạ đã tránh được sự đổ vở tang tóc cho đồng bào vô tội tại xã Chợ Lầu. Trước khi rút lui, VC bắn B40 loạn xạ vào khu dân cư, làm hư hại nhiều nhà cửa của dân và 1 em bé trai trọng thương.
Xóm Ổi tức là Ấp Xuân Quang thuộc xã Chợ Lầu nằm sát bên này bờ sông Lủy, cách cầu Xóm Lụa chừng 500m về hướng tây. Vùng này từ trước tới nay luôn bị áp lực nặng nề từ hai mật khu Cà Lon và Cà Giây có một tiểu đoàn chủ lực của VC đồn trú. Ðã thế bao quanh miền này lại có rất nhiều mương lạch chằng chịt, rất dễ cho địch sử dụng chiến thuật phục kích, đột nhập vào trong thôn ấp.
Vì tình hình an ninh quá tồi tệ, nên qua nhiều đời quận/chi khu trưởng Hòa Ða đều đề nghị tỉnh xin dời dân ra ngoài vùng an ninh. Thế nhung đề nghị luôn bị các dân biểu, nghị viên thân Cộng bác bỏ, nên đã không thành. Nguyên do vì đây là cở sở chính tiếp tế cho VC tại Bắc Sơn nên luôn mở các cuộc hành quân ngăn chặn. Tuy nhiên kể từ khi quân đội Ðồng Minh rút về nước và Trung Ðoàn 44/SD23BB di chuyển lên Pleiku thì Tiểu Khu không đủ lực lượng để không chế. Ðại Ðội 118/ÐPQ tuy thiện chiến dũng mảnh nhưng trước thế giặc đông đảo, cũng chỉ mở các cuộc đột kích đánh nhanh rút gọn về mà thôi, sau khi nhiều tổn thất nặng nề cho địch khi về Ấp thu tiếp tế thuốc men.
Nhờ chiến lợi phẩm thu được, ta mới được các đơn vị tham chiến tại đây phần lớn là bộ đội CS Bắc Việt xâm nhập. Thời Ðại Tá Ðàng Thiện Ngôn làm Tỉnh/Tiểu Khu Bình Thuận, vào tháng 8-1969, Ðại Ðội 118 ÐPQ tăng cường thêm mộ Trung Ðội CB/XDNT có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho Xóm Chàm Châu Hanh nằm phía bên kia sông Lũy, cách Cầu Quẹo trên QL1 chừng 1 km. Ðơn vị này đã đụng độ với Trung đoàn 812 chính qui Bắc Việt. Nhờ có trực thăng võ trang và pháo binh yểm trợ nên DD118 và Trung Ðội XDNT chẳng những đánh đuổi giặc ra khỏi thôn ấp đem lại đời sống bình thường cho đồng bào, mà còn gây cho VC nhiều tổn thất nặng nề về nhân mạng với hơn 80 tử thi bỏ lại tại chiến trường.
Năm nay Tháng 4 Quốc Hận lại về sau 34 năm vẫn còn Quốc Hận, những người lính già của Tỉnh Tiểu Khu Bình Thuận còn sống sót sau một đổi đời, trong đó có Trung Uý Cao Hoài Sơn, Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 4, Tiểu Ðoàn 229 ÐPQ/Bình Thuận danh trấn miền Bắc Bình Thuận gần suốt cuộc chiến. Ông đã nhớ về Ðơn Vị 118 ÐPQ qua một năm phục vụ và coi đó như là chiếc nôi khởi đầu cho cuộc đời binh nghiệp sau này. Cũng từ đó qua kinh nghiệp học hỏi từ Ðại Uý Nguyễn Văn Ngư Ðại Ðội Trưởng cùng toàn thể anh em trong đơn vị, khiến tôi nhớ mãi không nguôi.
Xóm Cồn Hạ Uy Di Mùa Quốc Hận 2009 Cao Hoài Sơn và Mường Giang
|