Increase Font Size Decrease Font Size Reset Font Size

Bài Mới Nhất
Buồn Tàn Thu (Trang Chính)
Bởi Mường Giang
Bài Viết
Mối họa thực sự từ Trung Cộng
Bởi Mai Loan

 

Mối Hoạ Thực Sự Từ Trung Cộng
Ngày tháng:
31/08/2008

Mai Loan
30-08-2008


Một trong những đặc tính cá biệt nổi bật của người dân Mỹ có lẽ là chuyện thích xem, đến mức gần như bị ám ảnh, các con số và thứ hạng để đánh giá xem mình đứng hạng thứ mấy trong tập thể. Ở nơi sở làm, nhiều người cứ muốn biết đồng lương của mình so với đồng nghiệp cao hay thấp. Ở trường học, người ta chú trọng và dồn nhiều vinh dự quá đáng cho các học sinh đỗ thủ khoa hay á khoa. Trên thao trường, người ta chỉ biết tôn vinh lực sĩ vô địch, mặc dù đôi khi kết quả tranh tài rất ngang ngửa và khít khao.

Lần này, nhân dịp Thế Vận Hội mùa hè được tổ chức ở Bắc Kinh, không phải chỉ có người Mỹ chú ý đến các con số huy chương giành được mà còn có nhà nước và hơn 1 tỷ 300 triệu thần dân Trung Hoa cũng đang ngày đêm theo dõi bảng sắp hạng các huy chương đoạt được của các lực sĩ để mong có thể vỗ ngực tự hào với sự vươn mình vượt bực của họ. Trước đó, nhiều chuyên gia, kể cả các nhà nghiên cứu dựa trên các mô hình tăng trưởng kinh tế, đã đi đến kết luận rằng chắc chắn là Trung Cộng sẽ giành được nhiều huy chương nhất lần này để vượt qua mặt Hoa Kỳ và lần đầu tiên trở thành đệ nhất siêu cường về thể thao.

Những kết quả tính cho đến ngày thứ Năm 22-08 cho thấy điều đó chắc sẽ hiện thực, ít ra là ở con số huy chương vàng, biểu hiện tài năng vô địch, mà phái đoàn lực sĩ của Trung Cộng giành được. Hiện nay, Hoa Kỳ chỉ giành được 29 huy chương vàng so với 46 của Trung Cộng, tuy rằng tổng số các huy chương chiếm được của Hoa Kỳ (95) nhiều hơn của Trung Cộng (83).

Nếu như tính từ năm 1984 ở Thế Vận Hội tại Los Angeles là năm Trung Cộng giành được chiếc huy chương vàng đầu tiên, thì quả thật là quốc gia đông dân số một này đã làm một bước đại nhảy vọt để có thể tự hào là một siêu cường trên nhiều lãnh vực, chứ không chỉ giới hạn trong lãnh vực kinh tế, chỉ trong vòng có hơn hai thập niên ngắn ngủi.

Nếu như Trung Cộng đã qua mặt được Hoa Kỳ về thể thao, thì liệu chừng nào nó cũng sẽ qua mặt được nước Mỹ về kinh tế? Hoặc quân sự, kỹ nghệ, khoa học, v.v. . .? Đó là những đề tài làm giầu ý tưởng và tư liệu cho các nhà bình luận có thể tìm hiểu và phân tích không mệt mỏi trong nhiều thập niên tới.

Có nhiều người nói rằng Trung Cộng có thể tiến vượt bực, nhưng không thể nào qua mặt được đệ nhất siêu cường Hoa Kỳ, nhất là trên hai lãnh vực kinh tế và quân sự. Thoạt nhìn, thì khó ai chối cãi được thực tế hiển nhiên đó. Thế nhưng, bất cứ một kỷ lục vượt bực nào được lập ra là cũng chỉ để chờ đợi đến ngày sẽ có người vượt phá được kỷ lục đó. Bất cứ quốc gia hùng mạnh bá chủ nào trong lịch sử rồi cũng có ngày phải nhường ngôi vị hàng đầu cho nước khác, từ các đế quốc La Mã, Mông Cổ, hay Pháp, Anh v.v. . .

Khách quan mà nói, nền kinh tế của Trung Cộng hiện nay, nếu tính theo mức tổng sản lượng quốc gia
GDP hàng năm vào khoảng 3,500 tỷ Mỹ-kim, thì cũng chỉ chiếm tỉ lệ 1/4 của mức GDP khổng lồ của Hoa Kỳ là 14,000 tỷ Mỹ-kim, cho dù nhiều người đã nghe nói quá nhiều về mức tăng trưởng kinh tế vượt bực của Trung Cộng trong gần ba thập niên qua. (Không phải không có lý do mà Hoa Kỳ vẫn thường được tôn xưng là quốc gia đầu tàu kinh tế của thế giới.) Giả sử như trong tình huống lạc quan nhất và mức tăng trưởng kinh tế của Trung Cộng vẫn giữ vững đều đặn thì có thể trong vòng hai thập niên tới thì con số GDP của nước này có thể ngang bằng hoặc qua mặt được mức của Hoa Kỳ, dựa theo một số những phân tích tiên đoán của tổ hợp tài chính Goldman Sachs.

Thế nhưng, điều này không phải là điều mà người Mỹ, hay nhiều người khác, cần phải quan tâm hay khó chịu, theo như lời nhận định của ông Robert Samuelson, một bình luận gia kinh tế, viết trên tờ Washington Post số đề ngày 20/08/08. Việc Trung Cộng trở nên giầu mạnh hơn, tự nó, không phải là một điều xấu cũng như không có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ trở thành nghèo hơn. Nhất là, nếu chỉ tính về lợi tức đồng niên (per capita income), tức là tiền kiếm được trung bình của 1 người dân trong 1 năm, thì mức lương trung bình của người Mỹ cao hơn người Hoa rất nhiều. Lý do đơn giản là Trung Cộng có dân số quá cao so với Hoa Kỳ, cho nên nếu lấy con số
GDP
chia đều cho hơn 1,3 tỷ người thì số tiền sẽ nhỏ hơn nhiều. Hiện nay, mức thu nhập người dân Trung Cộng chỉ bằng khoảng 1/10 so với người Mỹ; và dựa theo những tiên đoán lạc quan nhất của Goldman Sachs, thì nó cũng chỉ cao đến mức bằng phân nửa của người Mỹ vào năm 2050.

Điều đáng lo nhất là Trung Cộng, trong tiến trình tăng trưởng sức mạnh kinh tế của mình, cộng với tham vọng và tính tự kiêu cố hữu của họ, có thể sẽ làm đảo lộn trật tự toàn cầu, hay đúng hơn là có thể biến cho nền kinh tế thế giới trở nên bất ổn hơn. Với sự can thiệp và kiểm soát chặt chẽ của nhà nước trong mọi lãnh vực, bộ máy kinh tế nước này có thể trở thành một công cụ cho những toan tính của chính quyền, cũng như có thể dễ bị chi phối theo những đòi hỏi chính trị thay vì để tự nhiên phát triển theo mô hình thị trường tự do. Nó có thể tạo nên những tình trạng bất quân bình to lớn trong mậu dịch, cũng như thúc đẩy một cuộc chạy đua gay gắt để giành giật những nguồn tài nguyên thiên nhiên mỗi ngày mỗi cạn kiệt hơn. Những dấu hiệu bất ổn đã bắt đầu xảy ra, chẳng hạn như tình trạng tăng vọt giá cả của năng lượng và các nguyên liệu gần đây do bởi nhu cầu tiêu thụ ồ ạt của Trung Cộng. Nếu như những điều này không được lưu ý để điều chỉnh, tình hình có thể trở nên trầm trọng hơn, và sẽ đem lại thiệt hại cho mọi người, kể cả Trung Cộng. Với đà tăng trưởng không ngừng, bộ máy sản xuất của Trung Cộng coi như đã giúp cho những nhà lãnh đạo nước này thách thức và đảo lộn những giáo lý cơ bản của một cơ chế vận hành kinh tế toàn cầu, nói theo lời bình phẩm của ông Fred Bergsten, một kinh tế gia của Viện nghiên cứu Peterson.

Quả thật là tinh thần tự do mậu dịch, cạnh tranh theo mô hình kinh tế thị trường, và toàn cầu hoá nền kinh tế, đã giúp đem lại nhiều phúc lợi to lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Sau khi cả thế giới bị kiệt quệ hoặc hao tổn trầm trọng trong cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, chỉ trong vòng vài thập niên tái thiết và bình định, rất nhiều quốc gia đã cùng trở nên giầu mạnh. Mức sống của người dân, đo lường bằng lợi tức đồng niên, đã được cải thiện nhanh chóng. Nếu tính kể từ năm 1950 tới nay thì nó đã tăng cao gấp 10 lần tại Nhật, gấp 16 lần tại Nam Hàn, hoặc gấp 4 lần như tại Pháp và Hoa Kỳ. Điều đặc biệt là tình trạng phú cường chung này đã diễn ra mà không có những tranh chấp chính trị nào đáng kể, cho dù là cả hai khối tự do và cộng sản vẫn gầm gừ với nhau trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Những nguyên nhân chính tạo nên những xung đột trên toàn cầu thường là vì ý thức hệ, chủ nghĩa tôn thờ dân tộc, tôn giáo, hay tranh chấp chủng tộc.

Giờ đây, người ta có thể kể thêm một yếu tố khác làm nguyên nhân gây nên xung đột: đó là nhu cầu kinh tế, bởi vì cán cân quyền lực đã bắt đầu xoay chiều. Hoa Kỳ đã và đang là đầu tàu lèo lái con thuyền thế giới trong một trật tự hiện tại, nhưng Trung Cộng là một cường quốc đang lớn mạnh cho một trật tự thế giới tương lai. Và cả hai siêu cường có những cái nhìn và cách áp dụng rất tương phản.

Hoa Kỳ, với sức mạnh kinh tế vượt trội sau Đệ Nhị Thế Chiến, chủ trương bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách giúp phát triển kinh tế cho các nước đồng minh với mình, với mục đích chính là ngăn chặn làn sóng xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản và đồng thời tránh rơi vào tình trạng suy thoái như cơn Đại Khủng Hoảng năm 1929. Nguyên tắc cạnh tranh theo kinh tế thị trường và tự do mậu dịch được áp dụng, đem lại sung túc cho mọi thành phần trong liên minh tự do. Các tài nguyên thiên nhiên được phân chia đồng đều, với giá cả bình đẳng, tuỳ theo nhu cầu và khả năng, chứ không thể dùng làm của riêng để bắt chẹt lẫn nhau. Chính phủ các nước không được giữ giá đồng bạc một cách ép buộc nhằm mục đích thủ lợi riêng. Đó là lý do tại sao Hoa Kỳ tốn bao công sức để bảo vệ nguồn dầu hoả xuất cảng từ Trung Đông không phải chỉ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn để giúp cho nhu cầu cần thiết của một đồng minh kinh tế khác là Nhật Bản. Nói chung thì tinh thần cạnh tranh khá bình đẳng này được tôn trọng, mặc dù đôi lúc một vài nước cũng tìm cách thủ lợi riêng cho mình (như trường hợp Nhật Bản kiểm soát thị trường nội địa và kềm giá đồng yen trong nhiều năm dài.)

Trung Cộng thì đeo đuổi những mục tiêu khác. Sự tăng trưởng kinh tế vượt bực và tạo nên nhiều công ăn việc làm mới có mục tiêu chính là nâng cao mức sống của nhiều thành phần dân chúng trong nước, cũng như để giải quyết phần nào những nhu cầu mới, đẻ ra do sự chuyển dịch to lớn của khối dân nghèo từ nông thôn sang thành thị. Theo kinh tế gia Donald Straszheim của hãng tư vấn đầu tư Roth Capital Partners ước lượng thì mỗi năm có khoảng 17 triệu dân Tầu rời bỏ ruộng làng để định cư ở thành phố, tạo nên một nhu cầu to lớn mà chính phủ Bắc Kinh phải lo giải quyết. Do đó, sự giầu mạnh về kinh tế, đem lại từ khối lượng hàng xuất cảng ồ ạt từ nhiều năm qua, đã là công cụ cần thiết để giúp cho chính quyền ổn định trật tự trong nước cũng như để tiếp tục giữ vững ngôi vị cầm quyền của Đảng Cộng Sản Trung Hoa. Sự tăng trưởng kinh tế vượt bực của Trung Cộng cũng trở thành một khối nam châm thu hút vốn liếng đầu tư từ ngoại quốc đổ xô đến, giúp đem lại nhiều kỹ thuật tân tiến, kiến thức và kinh nghiệm điều hành hiệu năng, càng khiến cho bộ máy kinh tế càng hoạt động mạnh hơn.

Thoạt đầu, Trung Cộng vẫn tôn trọng quy luật chung bình đẳng trong khi đeo đuổi tham vọng phát triển kinh tế. Đó là lý do tại sao từ lúc đầu Hoa Kỳ đã ủng hộ cho Trung Cộng được gia nhập vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO), để mong cho mọi bên đều cùng hưởng lợi. Nhưng khi Trung Cộng bắt đầu lớn mạnh và giầu có hơn, thì các nhà lãnh đạo nước này mới trổ mòi ma giáo, bắt đầu sử dụng tiểu xảo gian manh. Đầu tiên là quyết định kềm giữ đồng renminbi (nhân-dân-tệ) ở mức thấp giả tạo. Khi đồng tiền trong nước thấp, thì hàng hoá nhập cảng sẽ trở thành đắt đỏ hơn, và hàng Tầu xuất cảng sang các nước khác cũng trở nên rẻ hơn, giúp cho ngành xuất cảng gia tăng vượt bực. Từ năm 2000 đến 2007, cán cân chi phó (current account balance) -- tức là mức sai biệt dư hay thiếu sau khi tổng cộng hàng xuất cảng và nhập cảng -- của Trung Cộng đã gia tăng vượt bực. Mức bội thu này (tiền hàng xuất cảng còn dư sau khi đã trừ tiền hàng nhập cảng) đã nhảy vọt từ khoảng 18 tỷ Mỹ-kim (năm 2000) lên đến 390 tỷ Mỹ-kim vào năm 2007 !!! Những kẻ thiệt hại trong vụ này không phải chỉ có những nhà sản xuất trong nước Mỹ (khi mất mối sản xuất vì không cạnh tranh nổi với hàng rẻ của Tầu) mà còn là nhiều quốc gia nghèo cũng đang trông mong vào ngành xuất cảng nhưng vì thiếu nhân lực nên không thể cự lại. Hậu quả là một tình trạng làm giầu bất quân bình, thay vì mọi phía đều cùng làm giầu theo như mô hình của Hoa Kỳ.

Chưa hết, Trung Cộng bắt đầu tìm cách bảo vệ thế thượng phong của mình bằng cách lo chiếm giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên làm của riêng: đó là việc đổ xô để đi thu mua tất cả các hàng hoá cần thiết như dầu hoả, khí đốt, khoảng sản. Đó là lý do tại sao Trung Cộng đã không ngần ngại đầu tư cũng như mua chuộc nhiều chính quyền độc tài tại Phi Châu (như Sudan, Angola) để bảo đảm có được nguồn tiếp tế nguyên liệu, cũng như sẵn sàng chống lại các nỗ lực của Hoa Kỳ và Tây Âu muốn cấm vận Ba Tư. Thâm ý của chính quyền Bắc Kinh là muốn bắt tay với chính quyền Tehran để mong giữ được một nguồn cung cấp dầu thô cần thiết cho nhu cầu sản xuất của Trung Cộng trong đường dài.

Dĩ nhiên, cả hai cường quốc Mỹ và Tầu cũng đều nhắm đến quyền lợi riêng biệt cho mình. Tuy nhiên, Hoa Kỳ nhìn một nền kinh tế thịnh vượng trên toàn cầu như là phương tiện để nới rộng sức mạnh và ảnh hưởng của mình. Trong khi đó, Trung Cộng sử dụng nền kinh tế thế giới, với kho tiêu thụ hàng xuất cảng ồ ạt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được mua chuộc và bảo đảm, như là một công cụ để giữ vững sự an ninh nội địa và củng cố sức mạnh của đảng cầm quyền.

Với mức thặng dư kinh khủng trong cán cân chi phó, Trung Cộng đã sở hữu được một kho dự trữ ngoại tệ lên đến 1,800 tỷ Mỹ-kim, đủ để có khả năng mua những cổ phần to lớn trong các đại công ty của Hoa Kỳ hay Âu Châu. Từ đó, dễ dẫn đến những phản ứng bất lợi vì gặp sự chống đối của nhiều tầng lớp quần chúng cũng như của nhiều chính trị gia tại các quốc gia này. Hơn nữa, việc nhà nước Trung Cộng dìm giá đồng nhân-dân-tệ xuống thấp trong thời gian dài cũng khiến cho đồng euro tăng giá, tác hại xấu đến ngành xuất cảng tại Âu Châu, dễ đưa khối này rơi vào tình trạng suy thoái kinh tê.

Chính sách kinh tế của Hoa Kỳ và Trung Cộng coi như khó thể tiếp tục cùng chung sống trong trạng thái này mãi. Sự phân ly này sẽ phải giải quyết, tuy người ta không biết sẽ bằng cách nào. Nếu Hoa Kỳ không có phản ứng, hoặc phản ứng quá chậm, sự lớn mạnh về kinh tế của Trung Cộng có thể sẽ khiến cho nền kinh tế của thế giới gặp khó khăn hay yếu đuối. Nhưng nếu như Hoa Kỳ phản ứng quá mạnh, hay phản ứng không đúng khi đòi hỏi những chính sách bảo hộ nặng tính tự ái dân tộc, thì nền kinh tế toàn cầu cũng không lớn mạnh được. Toàn-cầu-hoá không chỉ có nghĩa là để cho các đại tổ hợp tư bản có thể trở thành các công ty đa-quốc-gia, được tự do phát triển khắp nơi để kiếm lợi nhuận. Nó còn đòi hỏi một tinh thần hỗ tương vì sự lệ thuộc liên đới, khi mà mọi thành viên đều phải nghĩ đến quyền lợi chung vì nó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi riêng của mình.

 

Bản tin này được đăng tại Vietnam Review
http://www.vietnamreview.com

URL của bản tin này:
http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=8087

 

Copyright © huongvebinhthuan.org
Website powered by VFCE CMS