Increase Font Size Decrease Font Size Reset Font Size

Bài Mới Nhất
Buồn Tàn Thu (Trang Chính)
Bởi Mường Giang
Bài Viết
TÂY TẠNG QUẬT KHỞI CHỐNG TÀU ÐỎ ÐÒI ÐỘC LẬP
Bởi Mường Giang
            Ðế quốc Trung Cộng ngày nay có diện tích chỉ thua Liên Bang Nga và Canada, lớn hơn Hoa Kỳ nhưng dân số lại đông nhất thế giới (3.691.000 sq.ml hay 9.559.690 km2 - 1.133.682.501 người, theo thống kê của World Atlas năm 2005) . Gọi Trung Hoa là đế quốc vì các phần đất Mãn Châu (Ðông Tam Tỉnh), Nội Mông, Tân Cương, Thanh Hải và Tây Tạng, chiếm hơn 60 phần trăm diện tích nước Tàu, đều là lãnh thổ của các quốc gia độc lập có chủ quyền nhưng đã bị người Mãn và Hán dùng vũ lực cưỡng đoạt trước năm 1950, một cách thô bạo.

            Giống như Liên Bang Sô Viết trước đây, đế quốc Tàu đỏ từ ngoài nhìn vào thì thật là đồ sộ, phồn vinh và hùng mạnh, thực tế rất mỏng manh, có thể tan vở lúc nào không ai có thể biết trước. Kinh tế phát triển nhưng phía sau những dãy nhà chọc trời là hình ảnh của triệu triệu hồn ma bóng quỹ nghèo đói khắp nông thôn lẫn thị thành. Ðó là hậu quả của một nền kinh tế thị trường theo định hướng chủ nghĩa xã hội, chỉ tạo nên cảnh giàu nghèo chênh lệnh, tham nhũng không còn thuốc chữa và giúp phương tiện cho bọn tư bản Âu-Mỹ, Nhật, bọn Hoa kiều tứ xứ trong đó có Ðài Loan ... đầu tư vốn làm giàu trên máu xương của tầng lớp lao động nghèo.

            Sự bần cùng hóa nông thôn, nạn quan liêu cửa quyền hống hách coi mạng người như cỏ rác và chính sách khủng bố diệt chủng các dân tộc bị trị, ý đồ xâm lăng các nước láng giềng để đồng hoá, cướp đất và ảo vọng làm bá chủ thế giới, đã công khai thách thức Hoa Kỳ lẫn thế giới một cuộc đại chiến tại Ðông Á-Thái Bình Dương, không thể nào không xảy ra được, nhất là khi Tàu đó bị dồn vào chân tường vì sự tẩy chay của nhân loại.

            Tháng 3 năm 2005, Trung Cộng đã thông qua đạo luật sử dụng quân sự để tấn công Ðài Loan, nếu nước này dám tuyên bố độc lập. Ðây cũng là một đòn phủ đầu nhằm răn đe các dân tộc Mản, Mông, Hồi và nhất là Tây Tạng luôn tìm đủ mọi cách quật khởi dành lại đất nước mình đang bị người Tàu cưởng chiếm đô hộ.

            Ngày 15-9-2005 tại trụ sở LHQ nhân kỷ niệm 60 năm thành lập, chủ tịch Trung Cộng là Hồ Cẩm Ðào đã đưa ra chính sách sống chung hòa bình với thế giới qua ba chủ trương “ bao dung, hòa hợp và liên kết “ để xoa dịu sự căng thẳng và hồ nghi của các nước đang nhắm vào người Tàu. Nhưng đó chỉ là lý thuyết, thực tế Trung Cộng càng ngày càng bành trướng thế lực, gia tăng bộ máy chiến tranh nhất là lực lượng hải quân, công khai xây dựng nhiều căn cứ quân sự trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa cưởng đoạt của VN. Tất cả hành động ngông cuồng trên đã làm cho tình hình an ninh của thế giới thêm căng thẳng, tạo cơ hội cho Ấn Ðộ, Nhật Bản, khối Asean.. bắt buộc phải liên minh với Mỹ để tự vệ. Ngay cả Nga là quốc gia duy nhất có chung biên giới và ý thức hệ một thời với Trung Cộng, cũng luôn tỏ thái độ hồ nghi và phải tiến hành một số biện pháp phòng ngự.

            Ngày 8-8-2008 , Trung Công đã khai mạc Thế Vận Hội tại Bắc Kinh. Ðây cũng là thời gian mà Tàu đỏ phải đối mặt với các tổ chức nhân quyền ủng hộ phong trào đòi độc lập tự do của Tây Tạng và người Hồi Giáo ở Thanh Hải, Tân Cương. Trước đó vào tháng 5-1996 người Ðột Quyết (Uighur) tại Tân Cương, sát nách với Tây Tạng đã nổi loạn chống Trung Cộng đòi tự trị và quyền sống nhưng phong trào trên đã bị Tàu đỏ đàn áp một cách dã man.

            Riêng Tây Tạng ngay từ năm 1949 tới nay, cũng đã nhiều lần nổi lên chống lại chính sách diệt chủng của thực dân đỏ, để dành lại độc lập cho xứ sở nhưng vì cô thế nên đành chịu tù đầy chết chóc trước bạo lực và sự toa rập của cái gọi là ‘Hội Đồng Bảo An LHQ ‘ nhưng thực chất chỉ là bọn bù nhìn làm tay sai cho Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Tàu đỏ. Ðây cũng không phải là vấn đề mới mẽ gì nhưng nhờ Trung Cộng cố tình bưng bít thông tin, nên thế giới tự do đã mù tịt, cứ tưởng đất nước Trung Hoa vĩ đại, dưới trên đoàn kết thống nhất. Trong khi đó, tình trạng phân hóa giữa các dân tộc bị trị ở lục địa và ngay cả Ðài Loan, chừng nào mới chịu hợp nhất để chỉ có một nước Tàu như Hán tộc suốt mấy ngàn năm qua hằng mong đợi ?

            Tức nước thì vỡ bờ, nhân sự kiện Trung Cộng khai mạc Thế Vận Hội 2008 tại Bắc Kinh. Lợi dụng thời cơ cả thế giới đang hướng về lục địa đỏ, ngày 10-3-2008 người dân Tây Tạng trong và ngoài nước đã đồng loạt đứng dậy đòi dộc lập và quyền sống. Trong nước, Trung Cộng khẩn cấp đưa quân đội, công an ào ạt lên thủ đô Lhasa và các vùng có biểu tình, để đàn áp dập tắt ngọn lửa đấu tranh của phong trào phản kháng. Ðồng lúc bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh lên tiếng giải độc dư luận khắp nơi về sự đàn áp dã man của Tàu đỏ đối với người Tạng.

            Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng lưu vong, dù luôn chủ trương ‘ sống chung hòa bình ‘ nhưng trước thảm cảnh đồng bào mình bị giết hại trước họng súng và lưởi lê của giặc cướp, đã lên tiếng nhờ quốc tế mở cuộc điều tra. Nhiều vị sư sãi Tây Tạng đã tới biểu tình trước trụ sở LHQ tại Nữu Ước, một số khác len lõi vào được vận động trường Nhã Ðiển tại Hy Lạp, đã làm náo loạn buổi lễ khai mạc đốt đuốc Thế Vận Hội Mùa Hè 2008 đã diễn ra ở Bắc Kinh vào tháng 8. Tất cả các sự kiện lịch sữ trên đã gần như lột trần bộ mặt thật của một đế quốc thực dân mới đang lăm le thống trị hoàn cầu.

Sự quật khởi của người Tây Tạng đã làm cho nhân loại tỉnh cơn mê. Từ đây Trung Công đã không còn cơ hội mê hoặc thế giới, trong đó có hơn 80 triệu người VN đang quằn quại sống trong ngục tù Cộng Sản do Trung Cộng đứng đằng sau VC chỉ đạo từ 70 năm qua.

1- TÂY TẠNG HUYỀN BÍ VÀ VÔ ƯU:

            Trước khi bị Tàu đỏ cưởng đoạt bằng vũ lực, Tây Tạng (Tibet) là một quốc gia độc lập lâu đời tại Trung Á. Ðây là một vùng đất quanh năm suốt tháng tuyết phủ vạn niên, được coi như nóc nhà của thế giới vì có độ cao hơn mặt biển 5000m. Sát biên giới phía nam lại có đỉnh núi Everest cao ngát từng xanh (29028 ft - 8848m) . Ðây là miền đất bao đời được coi như vô ưu vì người Tạng luôn khép kín không tranh dành với thế giới, một vùng đất mang nhiều huyền bí tới nay vẫn không mấy người biết được.

            Tây Tạng có diện tích 1.892. 393 sq.ml , dân số trên 6 triệu người theo Phật Giáo Mật Tông (Kim Cương Thừa) , bắc giáp Tân Cương, phía đông tiếp cận với các tỉnh Thanh Hải, Tứ Xuyên, Vân Nam. Phiá tây nam có chung biên giới với Ấn Ðộ, Nepal, Bhutan, Miến Ðiện. Thủ phủ đóng tại Lhasa cũng là thành phố lớn nhất nước. Ðược bao bọc bốn bề là núi non hùng vỷ, phía nam có dãy Hymalaya, dãy Karakoram ở phía tây, ngọn núi Côn Luân (Kunlun) ở phía bắc. Bởi vậy Tây Tạng được coi như là vùng đất hẻo lánh nhất hoàn cầu.

            Theo khảo cứu của các nhà địa chất học, thì vùng này trước đây vốn nằm sâu trong lòng biển cả, qua các dấu vết trầm tích còn lưu lại nên người ta có thể phỏng đoán đã xảy ra chừng 40 triệu năm về trước. Sau đó nhờ có trận động đất do các lục địa va chạm vào nhau, tạo thành dãy Hy Mã Lạp Sơn và cao nguyên Tây Tạng. Hiện tại nhiều hồ nước ở đây còn để lại vô số xác động vật biển đã hóa thạch. Ðây là vùng có mật độ dân số thưa thớt nhất trong đế quốc Tàu đỏ, nơi phát xuất của nhiều con sông lớn của Châu Á như Hằng Hà, Ấn Hà (Ấn Ðộ), Mekong , Hoàng Hà, Dương Tử...

            Nói chung Tây Tạng từ thế kỷ thứ VII (sau TL), mới bắt đầu giao tiếp với người Hán ở phía đông và các nước láng giềng khác để giao thương và trao đổi văn hóa. Từ năm 710 về sau, thời vua Tride Zhotsan, Phật giáo chính thức trở thành quốc giáo của Tây Tạng. Thời vua Trison Detsen (755-779) Tây Tạng xua quân chiếm nhiều đất đai phía tây của Trung Hoa. Năm 763 thời mạt Ðường, kinh đô Tràng An trong tỉnh Thiểm Tây bị Tây Tạng chiếm, khiến người Tàu phải triều cống Tây Tạng, đồng thời hai bên ký hiệp ước phân định biên giới từ đó. Thế kỷ XIII Mông Cổ xâm chiếm và đô hộ Tây Tạng, chia nước này thành nhiều khu vực để cai trị. Thời nhà Minh (1368-1644) vẫn duy trì chính sách chia để trị tại Tây Tạng, làm cho quốc gia này càng lúc càng suy yếu. Nhà Thanh (1644-1911) thay đổi chính sách cai trị Tây Tạng, ban phát nhiều quyền hành cho các vị Ðại Lạt Lạt Ma coi như là vị lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng.

            Ngoài cái nạn bị Hán tộc và Mông Cổ xâm lăng đô hộ,Tây Tạng còn bị Ấn Ðộ và Nepal xâm lăng nhiều lần. Tới thế kỷ XIX thực dân Anh sau khi chiếm được Ấn Ðộ, Miến Ðiện và A Phú Hản, bắt đầu xâm nhập Xứ Tuyết vào năm 1903 nhưng vì không chịu nổi thời tiết khắc nghiệt và sự đối kháng của nghĩa quân, nên đã bỏ Tây Tạng , sau khi đã ký một hiệp ứớc với nhà Thanh không can thiệp vào nội bộ của nước này nữa.

            Năm 1914 bắt đầu đệ nhất thế chiến, thực dân Anh lại dòm ngó Tây Tạng, mở hội nghị tại Ấn Ðộ, đòi chia nước này thành hai phần, một nữa giao cho Tàu, phần kia thuôc Anh nhưng bị thất bại. Năm 1949 Trung Cộng chiếm được lục dịa Trung Hoa , tháng 10 cùng năm. Mao Trạch Ðông xua 80.000 Hồng quân tấn công và cưởng chiếm nước này, sáp nhập vào đế quốc đỏ tới ngày nay.

            Ðối với nguời Tây Tạng, Ðạt Lai Lạt Ma chính là những vị lãnh tụ tinh thần của họ với niềm tin. các vị đó chính là những hậu kiếp của Phật sau khi đã đầu thai qua một vòng luân hồi (Samsara) . Những cao tăng dựa vào những lời trân trối cuối cùng mà vị Lạt Ma tiền nhiệm để lại hay các dấu hiệu đặc biệt, để tìm ra đứa trẻ mới sinh lập lên vị Ðạt Lai Lạt Ma kế tiếp.

            Theo Phật sử Tây Tạng, Ðại Sư Sonam Gyatso, viện trưởng tu viện Drepung là người đầu tiên được ban danh xưng Ðạt Lai Lạt Ma, đồng thời ngài cũng là chưởng môn của giáo phái Gelugpa (Mũ vàng). Trong khi đó Ðạt Lai Lạt Ma thứ 6 lại là một Ðại sư người Mông Cổ tên Gushri được thụ phong năm 1642. Chính ông đã lập ra thể chế thần quyền để lảnh đạo Tây Tạng, bấy giờ coi như một chư hầu của Trung Hoa kể từ năm 1720.

            Hiện tại Tây Tạng được lãnh đạo bởi Ðại Sư Tenzin Gyatso, là vị Ðại Lai Lạt Ma thứ 14 của nước này, mặc dù ngài đã lưu vong từ năm 1959 tại Ấn Ðộ. Là người đạo đức, thông minh, tài hoa với tấm lòng vị tha nhân ái của một Phật Tử , cộng với một tầm tư tưởng gần như quán tuyệt, nên ngài đã được nhận lảnh giải Nobel Hoà Bình vào năm 1989. Ngoài ra ngài còn viết tác phẩm nổi tiếng ‘ Violence and Compassion (Bạo lực và tình thương)’.

           Tuy nhiên chính Nữ ký giả người Pháp Alexandra David Neel mới là người đã vực Tây Tạng huyền bí đến với ánh sáng nhân loại. Năm 1924, cô một mình trèo non lội suối tìm tới thủ phủ Lhasa, nhờ vậy đã ghi lại cuộc sống thần bí của các vị sư kể cả dân thường, giúp thế giới phần nào, biết về một đất nước coi như cô lập hằng ngàn năm giữa băng tuyết. Ngoài ra còn có Ðại Sư Tây Tạng Lobsang Rampa, ông đã ghi lại sự huyền bí của đất nước mình, qua hồi ký ‘ The Rampa Story’ đã gây được sự cuốn hút của thế giới bên ngoài. Tác phẩm trên đã được nhà văn nổi tiếng hải ngoại là Nguyên Phong, phóng tác thành ‘ Tây Tạng Huyền Bí’ .

            Nhưng vị Ðạt Lai Lạt Ma VI Tsangyang Gyatso dù bị kết tội là ‘ nổi loạn ‘ nhưng ngài lại là một huyền thoại của xứ tuyết. Mất tích vào năm 33 tuổi trên đường lưu đày nhưng tới nay những tình ca của ông để lại đã trở thành những bản dân ca nổi tiếng, được lưu truyền khắp hang cùng ngỏ hẹp của Tây Tạng. Là người yêu nước, nên ngài đã từ khước quyền lực tối cao của một vị lãnh tụ tinh thần, để chống lại sự kềm kẹp của Mông Cỗ lẫn nhà Thanh đang đàn áp cai trị đất nước Tây Tạng. Ðây là một bài thơ tiêu biểu của vị Lạt Ma thứ VI, bày tỏ nổi tuyệt vọng của đất nước mình, đưọc viết vào năm 1706 khi bị quân Mông Cổ bắt ra khỏi điện Potala :

‘ Hạt trắng ơi hạt trắng
Cho ta mượn cánh nào
Ta chẳng bay xa đâu
Ðến Lithang ta sẽ quay về.. ’ ’

            Hằng ngàn năm nay, Tây Tạng vẫn là một địa danh mênh mông đầy huyền bí với không biết bao nhiêu chuyện lạ lùng, nhìn vào cứ tưởng là thần thoại, từ những bức tranh vẽ cảnh Tượng Phật Hoan Lạc tới các Tạng Kinh kỳ lạ. Từ Lễ Hội Sữa Chua truyền thống tới Thiên Táng là một trong những câu chuyện thần bí rùng rợn nhất trần gian nhưng đối với người Tây Tạng, thì đó lại là một phương cách thần kỳ nhờ chim ưng đưa linh hồn người chết về nơi cực lạc.

            Phật giáo là quốc giáo của Tây Tạng, trong đó Tạng kinh được coi như là một tổng hợp nghệ thuật chứa đựng văn học, vũ đạo, biểu diễn âm nhạc, nghệ thuật. Riêng Tạng Kịch, còn được gọi là ‘ A Giả Lạp Mẫu ‘ , mội nghệ thuãt độc đáo của người Tạng mà diễn viên toàn là phụ nữ và đeo mặt nạ khi biểu diễn, vừa ca vừa ra điệu bộ với nhiều động tác biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày.

             Ở đây còn được trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc rất kỳ lạ, diễn tả cảnh giao hoan của đôi nam nữ, được gọi chung là ‘Song Thần Hoan Hĩ Phật ‘.Ai cũng biết tôn chỉ của nhà Phật cấm sát sinh, trộm cắp, vọng ngữ, dâm dật..  thế tại sao lại thờ bức tượng trên? Thật sự, đây chỉ là một trong những phương thức tu trì của Mật Tông, một thừa của Phật giáo Ấn Ðộ được truyền vào đất Tạng vào thế kỷ thứ VIII. Hình thức ‘ Song thần hoan hĩ Phật ‘ là nấc cao nhất của Mật Tông, được các vị cao tăng sử dụng, khi dùng tình dục để khắc chế tình dục, lấy luân hồi sinh tử để thuần hóa sự sống chết. Bởi vậy khi luyện tập, chúng tăng dùng khí công Yoga và nhờ ‘ Song Tu Thần Pháp (ôm người bạn nữ)’ trong vòng tay, tạo sự hoan lạc trong chớp mắt, để đạt tới cảnh giới ‘bất sinh bất tử, trường sinh bất lão’. Ðó là giai đoạn chứng giác thành Phật.

2- TRUNG CỘNG XÂM LĂNG VÀ HỦY DIỆT TÂY TẠNG:

            Hiểu rõ về sự dã man bạo tàn của giặc Tàu, chắc chắn trên thế giới không ai có thể hơn được dân tộc Việt đã ba lần bị Bắc thuộc kéo dài hằng ngàn năm. Ðầu xuân năm Quý Mão (43 sau TL) , Hai Bà Trưng bị Mã Viện đánh bại, phải trầm mình tại Hát Giang, Từ đó, Giao Châu lại trở thành một quận huyện của nhà Hán, người Lạc Việt bị đày đoạ dầy xéo bạo tàn. Ðể diệt chủng nước ta, thái thú Mã Viện thi hành chính sách ‘Hán Hóa Người Việt’, ra lệnh tịch thu tất cả những đồ kim khí và đúc thành ‘Cột Ðồng Mã Viện’ với lời ran đe khả ố ‘Ðồng Trụ Chiết, Giao Chỉ Diệt’.

            Ðầu thế kỷ thứ XV, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần khiến lòng người bất phục nổi lên chống đối khắp nơi. Giặc Minh lợi dụng Trần Thiểm Bình sang cầu cứu nên đem quân chiếm nước ta. Ðể răn đe người Việt đang nổi lên theo Bình Ðịnh Vương Lê Lợi kháng chiến chống Tàu, vua nhà Minh đã hăm doạ ‘ Ðồng Trụ Chi kim Ðài Dĩ Lục (Cột Ðồng Ðến Nay Rêu Còn Xanh)’ Nhưng đã bị người Việt chơi xõ ‘Ðằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng (Sông Ðằng Từ Xưa Máu vẫn Ðỏ)’

            Từ xưa tới nay cột đồng hay bia đá đều bị mòn, bị mất. Chỉ có Bia Miệng thì vĩnh viễn không ai có thể bịt được, nên dân gian mới có câu ‘trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ’ là vậy đó.

            Với bản chất thực dân từ ngàn đời, người Hán dù đã bị rất nhiều luân hồi nghiệp chướng gần như suốt dòng lịch sử. Thế nhưng khi đắc ý vẫn không chừa cái thói cũ, bởi vậy năm 1949 ngay khi chiếm xong lục địa, Trung Cộng đã lộ ngay nanh vuốt thực dân qua hành động xâm lăng thôn tính các dân tộc nhược tiểu, để bành trướng lảnh thổ và thế lực. Tân Cương, Nội Mông và Tây Tạng bị cưởng bức thành các vùng ‘ tự trị’ của Tàu. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14, vị lãnh đạo tinh thần và thế tục của Dân Tộc Tây Tạng vào năm 1959 được CIA giải thoát. Từ đó Ngài sống lưu vong tại Ấn Ðộ nhưng mòn gót khắp các nẻo đường thế giới, để tìm phương tiện và hậu thuẩn giải thoát cho dân tộc, đất nước mình khỏi gông cùm nô lệ Tàu đỏ.

            Trong bài viết ‘The Very Best Men‘ của Evan Thomas, phụ tá chủ bút tờ Newsweek đã từng kể rõ việc CIA giải thoát Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14 thoát khỏi Tây Tạng đang bị Trung Cộng xâm chiếm từ tháng 10-1949. Bài viết đã nêu đích danh người phụ trách kế hoạch đó là Tony Poshepny qua bí danh Tony Poe. Câu chuyện trên, lần nữa lại được nhắc tới trên tạp chí George của con trai cố Tổng Thống J.Kennedy nhân kỷ niệm 50 ngày thành lập tổ chức CIA. Nhờ tài liệu trên, ta mới biết được hơn 50 năm qua Hoa Kỳ đã cho thực hiện nhiều điệp vụ tại Tây Tạng, từ sự kiện giải thoát Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tới việc cung cấp vũ khí cho quân du kích Tây Tạng chống tại Tàu đỏ. Sau này dù tình trạng bang giao giữa Mỹ-Hoa đã cải thiện, khi chiến tranh lạnh tạm kết thúc nhưng Hoa Kỳ vẫn duy trì hoạt động tình báo của mình.

            Ngày 17-3-1959 lợi dụng đêm tối trời không trăng, Ðạt Lai Lạt Ma đã cùng với đoàn tùy tùng 20 người trốn khỏi cung điện tại Lhasa. Ðoàn người lại tăng dần lên tới cả trăm, được chỉ huy bởi một diệp viên CIA , với nhiệm vụ liên lạc bằng vô tuyến để báo cáo với cấp trên. Ðiều này cũng dể hiểu vì ngay khi Trung Cộng chiếm cứ Tây Tạng, vào đầu năm 1950 thì CIA đã bí mật can thiệp. Họ cung cấp vũ khí cho bộ tộc Khang Ba tại Tây Tạng đang tiếp tục chiến đấu chống Tàu đỏ. Trong thời gian này Hoa Kỳ thuê mướn nhiều phi cơ dân sự của Miến Ðiện, Thái Lan và Ðài Loan.. bay tới vùng Hy Mã Lạp Sơn để cung cấp thêm hay thay đổi vũ khí đạn dược, thực phẩm, thuốc men cho Nghĩa Quân Tây Tạng. 

            Qua Gia Lạc là thủ lãnh của kháng chiến quân. Ông vốn là anh ruột của vị Ðạt Lai Lạt Ma đương thời đang bị Tàu giam lỏng tại Lhasa, nên mới móc nối được với Ngài để tổ chức cuộc giải thoát đầy nguy hiểm như huyền thoại. Lúc 3 giờ sáng ngày 28-3-1959, đoàn người vượt thoát mới tới được Thiết Lạp Khâu ở biên giới. Tại đây Poe liên lạc về trụ sở của CIA ở Miến Ðiện và cơ quan này lập tức trình về Tổng Thống Eisenhower. Cũng từ đó Hoa Kỳ giúp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, can thiệp với Ấn Ðộ và Nepal, nhường một mãnh đất dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn để lập Chính Phủ Tây Tạng Lưu Vong, thủ đô đặt tại thành phố Dharamsala

3- TRUNG CỘNG DIỆT CHỦNG TÂY TẠNG :

            Giống như tại Nội Mông và Tân Cương, ngay khi chiếm được lảnh thổ Tây Tạng vào năm 1950, Tàu đỏ lập tức cho thi hành chính sách thực dân, đem người Tàu từ bốn phương tới khai hoang lập nghiệp. Thái thú Chen Kuiyuan (Giang Trạch Dân) nhân vật sau này trở thành tổng bí thư đảng cộng sản Tàu, được đưa tới Lhasa chỉ huy chiến dịch ‘ Diệt chủng Tây Tạng’ vì Y đã thành công tại Nội Mông, qua nhiệm vụ hủy diệt gần hết thổ dân Mông Cổ tại vùng đất nhà, biến họ thành dân thiểu số (3 triệu người) trước Hoa Kiều (20 triệu người) tới lập nghiệp.

Trong kế hoạch diệt chủng người Tây Tạng ngay trên quê hương họ, ngoài chính sách di dân ồ ạt, còn dùng vũ lực bắt buộc mọi người phải hạn chế sinh đẻ, trong khi chính vùng đất này có mật độ dân số thưa thớt nhất trên thế giới từ trước tới nay. Nhưng thâm độc hơn hết là chính sách của Tàu đỏ, biến người Tạng mất gốc để đồng hóa họ, sau màn ‘ bắt phá thai ‘ để càng ngày càng ít người. Ai cũng biết cả nước Tây Tạng sùng kính Phật giáo, nên Bắc Kinh đã tiến hành chủ trương hủy diệt nên văn hóa của họ, bằng cách đàn áp dã man Giáo Hội và Tăng Lử Tây Tạng. Ðể có lý do biện minh với thế giới, Trung Cộng chụp mũ Phật Giáo và Văn Hóa người Tạng nhằm mục đích chia rẽ và tách rời Tây Tạng ra khỏi Trung Hoa, nên cần phải dẹp bỏ.

             Qua cuộc đàn áp man rợ này, chỉ trong thập niên 60 của thế kỷ XX, Tàu đỏ đã hủy diệt hơn 60.000 ngôi chùa trên đất Tạng, có hơn 1 triệu người bị tàn hại với đủ mọi lý do (chiếm 1/6 dân số). Ðể dọn cỏ sạch gốc, Bắc Kinh tổ chức các toán công an tôn giáo gồm 5 người Tàu, tới tận các tu viện khắp Tây Tạng để day về ý thức hệ Maoit va tinh thần ái quốc Hán tộc. Chúng bắt mọi người phải học tập mỗi ngày 4-5 giờ, để gột rữa hết giáo lý nhà Phật có từ trước, đồng thời nhét vào đó tư tưởng vô thần và chũ nghĩa xã hội. Khóa học kéo dài 2 tháng và chứng chỉ tốt nghiệp, chính là tờ tự xác nhận rằng ‘Tây Tạng trước sau bao giờ cũng thuộc lãnh thổ Trung Hoa‘. Ngoài ra còn phải ký tên phủ nhận Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đang lưu vong để thừa nhận Vị Bang Thiền Lạt Ma của Bắc Kinh mới là lảnh đạo tinh thần của họ. Ai không ký tên sẽ bị trục xuất ra khỏi tu viện và nhận chịu nhiều hình phạt thảm khốc sau đó

             Tóm lại tại Tây Tạng ngày nay, người nào nói "Tây Tạng không phải là đất của Tàu" sẽ lãnh án khổ sai trên 10 năm. Với các tu sĩ còn tin Phật Giáo nên bị đuổi khỏi tư viện, sẽ vĩnh viển trở thành kẻ vô cư, không được du hành thuyết pháp và vãng lai tới chốn thị thành. Họ trở thành cô hồn phiêu bạt, sống một đời bất hạnh và thương đau mà không có bút mực nào ghi cho hết. Với những người không ký tên mà có vai vế thì bị bắt vào các nhà tù, các trại tập trung. Riêng số đồng ý ký nhận, cũng chẳng yên lành, ngoài việc lo sợ bị nằm vùng chỉ điểm, họ còn bị bắt buộc phải tập quân sự, bắn súng .. nhằm mục đích làm cho người tu sĩ tự mình hủy diệt giới cấm nhà Phật : bất bạo động, không sát sinh, chẳng vọng ngữ..

            Với những vị đại sư tu trì khổ hạnh từ trước tới nay không màng dính líu tới sự đời, cũng không được để yên. Tàu đỏ bắt họ phải trả tiền thuê các hang động bằng không sẽ trục xuất, vì các hang động nơi thâm sơn cùng cốc vẫn được kê số nhà như ở thành thị. Ngoài ra những vị này bị coi như là thanh phần ký sinh trùng, chỉ biết ăn bám vào xã hội.. Tiêu diệt người Tạng không những ở lãnh vực tôn giáo mà còn nhắm vào giáo dục học đường. Tiếng Tàu dần thay thế ngôn ngữ Tây Tạng trong việc giảng dạy các cấp kể cả viện đại học tại Lhasa. Áp bức, bốc lột, đầy đọa man rợ, đã khiến cho người Tạng mấy chục năm qua không ngớt nổi dậy chống lại giặc cướp Tàu đỏ, qua mọi hình thức kể cả đặt bom, ám sát, biểu tình và du kích chiến. Một số khác nhất là giới tăng lữ, không quản gì tới sự sống chết, bảo tuyết, đường xa thăm thẳm, rủ nhau bỏ nước tìm về Tiểu Tây Tạng tại biên giới Ấn Ðộ. Cuộc chiến dành độc lập của người Tạng không lúc nào ngớt và nay đã bộc phát dử dội từ tháng 3-2008 liên tục tới ngày nay, như là một điểm nóng nhất trong tình hình sôi đọng của thế giới hiện nay.

            Và Bắc Kinh đã không ngờ là tin tức về các cuộc bạo động, tự thiêu, đàn áp.. lại nhanh chóng lan rộng khắp thế giới cũng như tại Tây Tạng và các tỉnh lân cận kể cả Tân Cương, biến cả phần đất phía tây nước Tau thành trận địa không cách gì dập tắt nổi, khi hận thù dân tộc đã bay vút lện tận trời cao và thấm sâu trong máu thịt của con người.

 

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Đầu Giêng 2012
MƯỜNG GIANG       

Copyright © huongvebinhthuan.org
Website powered by VFCE CMS